MUỐN T̀M HIỂU VỀ NGÀY 19 THÁNG 6 ?

 

 

Nguyễn-Huy Hùng

 

 

Cả gia đ́nh Tôi tới định cư tỵ nạn Cộng sản Việt Nam tại Hoa Kỳ, vào đầu tháng 8 năm 1992 theo diện H.O.10 (Humanitarian Operation), đến nay cũng được hơn mười năm. Các cháu nội, cháu ngoại của Tôi đă tiếp theo nhau vào Đại học. Có người đă tốt nghiệp, có người c̣n đang tiếp tục học nửa chừng, có người sắp sửa hết chương tŕnh Trung học. Bạn bè của các cháu, có người là Hoa Kỳ chính gốc, cũng có người là Mỹ gốc Việt hay gốc các sắc tộc khác, đến nhà chơi trong những dịp Lễ hoặc kỷ niệm sinh nhật, biết Tôi là cựu Sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng hoà ngày xưa, nên thường đưa ra những câu hỏi rất đơn giản và thành thật, xin Tôi giải thích cho họ rơ nguyên do tại sao? Chẳng hạn như :
-Ngày Quân Lực 19 tháng 6 là ngày ǵ vậy?
-Việt Nam Cộng hoà đă tan ră, không c̣n Quân đội, tại sao các Ông vẫn hàng năm tổ chức ngày kỷ niệm làm chi vậy?
Tôi đă trả lời cho những người bạn của các cháu, một cách tổng quát đơn giản cho qua chuyện, nhưng họ không chịu. Nhất định yêu cầu Tôi phải soạn ra những câu tŕnh bầy chi tiết hơn, để họ có thể dựa vào đó giải thích cho các bạn khác cũng thường thắc mắc như họ.
V́ thế, Tôi đă phải cố gắng vận dụng trí nhớ, cũng như tham khảo các ngày tháng năm chính xác trong 3 cuốn sách dưới đây, để soạn thành một tài liệu hướng dẫn đơn giản, nhưng tạm đầy đủ để làm vui ḷng họ. Các sách ấy là :
1-Bộ Quân sử Quân đội Việt Nam, Quyển IV, nói về Quân lực Việt Nam Cộng hoà giai đoạn h́nh thành 1946 -1955, do Pḥng 5 Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH sưu khảo, biên soạn, và phổ biến ngày 6 tháng 8 năm 1972 tại Saigon.
2-Việt Nam Niên biểu 1939-1975, Tập A và Tập B, của Chánh Đạo, do nhà xuất bản Văn Hoá phát hành năm 1996 tại Hoa Kỳ.
3-Việt Nam Niên biểu Nhân vật chí, có ghi gần 900 tác nhân lịch sử cận đại, từ 1848 tới 1975, cũng của Chánh Đạo, do nhà xuất bản Văn Hoá phát hành năm 1997 tại Hoa Kỳ.

Những điều Tôi tŕnh bầy được gói ghém trong 3 mục chính sau đây :
I.- V́ sao có Quân lực VNCH ?
II.- V́ sao chọn 19 Tháng 6 làm NGÀY QUÂN LỰC ?
III.- Những kỷ niệm ghi nhớ của riêng Tôi về ngày Quân lực VNCH .
 
Nay thấy nhiều Hội đoàn đă tổ chức các Đoàn Thế Hệ Trẻ, hướng dẫn họ nhập cuộc hoạt động để lần lần thay thế các Thế hệ Cha Ông, tiếp tục công cuộc đấu tranh hỗ trợ cho đồng bào trong nước Việt Nam vùng lên, lật đổ bạo quyền CSVN, giành lại Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, B́nh đẳng cho mọi người. Do đó, Tôi thấy cũng là một việc làm rất hữu ích, nếu nhờ được các cơ quan truyền thông tiếp tay phổ biến rộng răi, để bất cứ ai MUỐN T̀M HIỂU VỀ NGÀY 19 THÁNG 6, có sẵn tài liệu xử dụng mỗi khi cần đến, đỡ tốn công mất th́ giờ t́m ṭi sưu tập. Nhất là có được các sự kiện lịch sử trung thực về nguyên do cuộc chiến “ư thức hệ” “nồi da xáo thịt”, do những người Cộng sản Việt Nam, theo lệnh của Cộng sản Quốc tế Liên xô lănh đạo, gây ra trên đất nước Việt Nam trong Hậu bán Thế kỷ 20 vừa qua.
Với tuổi già, bệnh hoạn, trí nhớ bị suy yếu sau 13 năm chịu cảnh tù đầy, lao động khổ sai trong các trại cải tạo của Cộng sản Việt Nam, nếu có điều nào sơ sót, mong quư vị độc giả c̣n minh mẫn bổ túc giùm, Tôi chân thành cảm ơn.
 
I.- V̀ SAO CÓ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H̉A (QLVNCH) ?
 
11.- QUAN NIỆM CHUNG VỀ NHU CẦU CẦN CÓ QUÂN LỰC.
 
 Khi có một tập thể đông đảo người cùng chung nguồn gốc, hoặc nhiều Sắc tộc khác nhau nhưng sống bên nhau hoà thuận, theo cùng một chí hướng ước vọng giống nhau, đồng tâm hiệp lực sản xuất phát triển, để cùng có một cuộc sống ấm no hạnh phúc ngày một tân tiến hơn, th́ nhóm người đó đương nhiên trở thành một DÂN TỘC và gọi nhau là ĐỒNG BÀO.
KHOẢNG KHÔNG GIAN trên Trái Đất mà Dân Tộc đó chiếm giữ và làm chủ, cũng đương nhiên được coi là LĂNH THỔ QUỐC GIA riêng của họ, không một Dân tộc nào khác được quyền xâm phạm, giành giật.
Trong cuộc sống tập thể đông đảo như vậy, nhu cầu duy tŕ trật tự bảo vệ an toàn cá nhân cho mọi người trong nội bộ Quốc gia, cũng như chống lại các THẾ LỰC NGOÀI DÂN TỘC muốn xâm lấn, uy hiếp, trấn lột cuộc sống b́nh an của Dân Tộc ḿnh là cần thiết, nên đương nhiên cần phải có một lực lượng chuyên nghiệp, vơ trang hùng mạnh gọi là QUÂN ĐỘI hay QUÂN LỰC để chuyên lo.
V́ khoảng Không gian 3 chiều của mỗi Quốc gia gồm có : PHẦN ĐẤT, PHẦN TRỜI, và PHẦN BIỂN, do đó muốn bảo vệ được hữu hiệu, th́ Tổ chức Quân đội cũng phải có đủ 3 loại Quân Chủng chuyên biệt khác nhau là : LỤC QUÂN, HẢI QUÂN, và KHÔNG QUÂN, để có thể hỗ tương nhau điều hành cuộc chiến, tùy theo nhu cầu của mỗi hoàn cảnh t́nh huống khác nhau.
 
12.- BỐI CẢNH NÀO QUÂN LỰC VNCH ĐƯỢC THÀNH LẬP ?
 
 Suốt gần 100 năm, Quốc gia Việt Nam bị THỰC DÂN PHÁP đô hộ, các Triều đ́nh nhà NGUYỄN kế tiếp nhau, không được phép có Quân đội riêng, chỉ có Lực lượng Cảnh vệ trang bị vũ khí thô sơ gọi là LÍNH LỆ, LÍNH DƠNG, chuyên canh gác các Dinh thự, bảo vệ an ninh, hầu hạ Vua và các Quan chức trong Triều đ́nh, cũng như tại các Phủ, Huyện hành chánh thống thuộc Hoàng Triều mà thôi. Cho đến khi THẾ GIỚI ĐẠI CHIẾN HAI chấm dứt, Việt Nam giành lại được Độc lập cho Quốc gia th́ Quân đội Quốc gia Việt Nam mới được thành lập.
Sau đây là vài nét tóm lược, về bối cảnh Việt Nam vào lúc sắp kết thúc Thế giới Đại chiến II :
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân NHẬT thực hiện chiến dịch Meigo (đă chuẩn bị từ mùa Xuân 1944) để lật đổ chính quyền PHÁP ĐÔ HỘ, và thay Pháp nắm quyền cai trị trên toàn cơi ĐÔNG DƯƠNG.
Hai ngày sau đó, tức là Chủ nhật 11 tháng 3 năm 1945, tại Huế Vua BẢO ĐẠI tuyên bố Độc lập, hủy bỏ Hoà ước 1884 (do Triều đ́nh nhà Nguyễn trước kia kư với Chính phủ Pháp) và hứa hợp tác toàn diện với Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á do Nhật chủ xướng. Cùng ngày 11-3-45, vào lúc 9 giờ sáng tại Hànội, Đại Việt Quốc Gia Cách Mệnh Ủy Viên Hội tuyên bố thành lập ỦY HỘI HÀNH CHÁNH LÂM THỜI, sau này đổi thành Ủy Ban Chính Trị Bắc Kỳ.
Đến ngày 17 tháng 3 năm 1945, Vua Bảo Đại xuống chiếu chỉ, quy định từ nay sẽ đích thân cầm quyền, theo đúng tinh thần “DÂN VI QÚY”. Hai ngày sau, ngày 19-3-1945, ông PHẠM QUỲNH người lănh đạo chính phủ trong Triều đ́nh nhà Nguyễn cũ tại Huế xin từ chức. Đồng thời tại Hànội, Ủy Ban Chính Trị Bắc Kỳ do Đảng Quốc Gia Liên Minh thành lập vào ngày 11-3-45 cũng ra tuyên cáo tự giải tán. Nguyên văn bản Tuyên Cáo Quốc Dân như sau : “Chúng tôi thuộc Đảng Quốc Gia Liên Minh, nhân lúc giao thời đă ra đảm nhận mấy công việc cần cấp như trật tự, cứu tế, v.v.. Nay t́nh thế đă tạm yên, chúng tôi tự thấy nhiệm vụ đă hết, xin tuyên bố giải tán, để nhường các ngài có thực tài, thực đức ra cáng đáng những công việc quan hệ hơn.”

Ngày 16-4-1945, Vua Bảo Đại ủy nhiệm cho ông TRẦN TRỌNG KIM đứng ra thành lập chính phủ mới, điều hành đất nước theo chế độ QUÂN CHỦ LẬP HIẾN. Ngay ngày hôm sau, 17 tháng 4 năm 1945, ông Trần Trọng Kim tŕnh danh sách thành phần chính phủ, và được Vua Bảo Đại chấp thuận ngay. Cờ Quốc gia Việt Nam độc lập mới ra đời (biểu tượng h́nh QUẺ LY, nền vàng, 2 sọc đỏ dài và 2 sọc đỏ ngắn nối tiếp nhau nằm giữa 2 sọc dài. Tất cả các vạch đỏ đều nằm dọc suốt bề dài chính giữa nền cờ, quan sát từ xa trông như 3 sọc đỏ dài bằng nhau nằm trên h́nh chữ nhật vàng).

 

Tôi nhớ dưới thời Pháp thuộc, nước An-nam (Việt Nam) cũng có Quốc kỳ (nền vàng với một sọc đỏ nằm chính giữa suốt chiều dài cờ, được giải thích là da vàng bọc máu đỏ). Hồi đó (thuộc Thập niên 1930 và Thập niên 1940), Tôi học tại trường Trung Tiểu học Thị xă Lạng Sơn, mỗi sáng thứ hai, tất cả học tṛ và giáo sư (cả Pháp lẫn Việt) đều phải tập chung tham dự lễ chào cờ đầu tuần. Trong buổi lễ chào cờ, cả 2 lá Quốc kỳ Pháp (Tam tài=xanh,trắng,đỏ) và An-nam được kéo lên song song cùng một lúc, và tiếp theo mọi người phải đồng ca 2 bài Quốc ca : Pháp (La Marseillaise) và An-nam (bài Đăng Đàn, lâu rồi nên Tôi không c̣n nhớ cả lời ca lẫn điệu nhạc).

 

 

Ngày 27 tháng 4 năm 1945, Vua Bảo Đại cử ông PHAN KẾ TOẠI, cựu Tổng đốc Thái B́nh, làm KHÂM SAI ĐẠI THẦN BẮC BỘ, để điều hành Kinh lược phủ Bắc Bộ đă được thành lập tại Hànội từ ngày 24-4-1945.
Trong khoảng thời gian hơn 5 tháng sau biến cố 9-3-45, nhiều biến chuyển quan trọng trên chiến trường Á Đông, giữa quân Đồng Minh do Hoa Kỳ lănh đạo và quân Phiệt Nhật đă xẩy ra. Rồi đùng một cái, hai trái bom nguyên tử của Hoa Kỳ thả xuống đất Nhật Bản, san bằng 2 Thành phố HIROSHIMA ngày 6 tháng 8, và NAGASAKI ngày 9 tháng 8. Tai họa khủng khiếp này đă khiến Nhật Hoàng, phải chịu nhục xin đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15-8-1945. Thế chiến II chấm dứt. Cao trào tranh đấu giành Độc lập tại các Tiểu Nhược Quốc, nguyên là Thuộc địa của các nước Thực dân da trắng, bùng lên mạnh mẽ.
Ngày 17 tháng 8 năm 1945, tại Hànội, các Công chức, cùng với các Đảng phái Quốc gia không Cộng sản, và các phong trào yêu nước trong quảng đại quần chúng, tổ chức mít tinh trước Nhà Hát Lớn, để ủng hộ chính phủ Trần trọng Kim. Đă bị nhóm Việt Minh Cộng sản của HỒ CHÍ MINH trà trộn tham gia, rồi tinh ranh xảo quyệt lôi cuốn biến thành cuộc biểu t́nh do Việt Minh hướng dẫn, áp lực đ̣i Vua BẢO ĐẠI phải thoái Vị, giải tán Chính phủ TRẦN TRỌNG KIM, lập Ủy Ban Nhân dân cai trị một số Tỉnh, Quận, Huyện, Làng, Xóm mà nhóm Việt Minh đang có mặt. Trong khi đó các Đảng phái Chính trị không Cộng sản như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Duy Dân, Phục Quốc v.v…, cũng chiếm quyền điều hành tại một số Tỉnh mà họ đă có lực lượng bí mật hoạt động từ hồi đất nước c̣n do Pháp và Nhật cai trị.
Khoảng cuối tháng 8 năm 1945, quân TRUNG HOA DÂN QUỐC của Ông Tưởng Giới Thạch, do Tướng LƯ HÁN chỉ huy, đại diện Liên Hiệp Quốc (LHQ) tới Hànội đóng Bản doanh, điều khiển các đơn vị thực hiện việc giải giới quân Nhật, tại các tỉnh trong vùng phía Bắc Vĩ tuyến 16 của Bán đảo Đông Dương.
Có một Tổ chức Chính trị với danh xưng VIỆT NAM CÁCH MỆNH ĐỒNG MINH HỘI (VNCMĐMH) do Cụ NGUYỄN HẢI THẦN làm Chủ Tịch, cùng một số Lănh tụ và thành viên các Đảng Chính trị Việt Nam chống Pháp, lưu vong bên Trung Hoa (trong đó có Hồ Chí Minh), được Tướng LƯ HÁN đưa về nước vận động toàn dân Việt Nam bầu QUỐC HỘI LẬP HIẾN, thành lập CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP gồm Đại diện của đủ mọi xu hướng Chính trị khác nhau, để điều hành Quốc gia Việt Nam Độc lập với sự bảo trợ của LHQ.
Mọi việc hoàn tất suông sẻ. Nhờ khéo vận động tuyên truyền xảo quyệt của nhóm Việt Minh, Hồ Chí Minh được Quốc Hội bầu giữ chức CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP, cụ Nguyễn Hải Thần làm PHÓ CHỦ TỊCH, và Cựu Hoàng Bảo Đại thoái vị được mời làm CỐ VẤN cho Chủ Tịch. Tất cả mọi bên QUỐC HỘI và CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP đều cùng thỏa thuận là Đảng nào đang nắm Chính quyền tại Tỉnh nào, th́ đương nhiên được ưu tiên tiếp tục trách nhiệm cải tiến Chính quyền Hành chánh điều hành Tỉnh đó.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, dân chúng Hànội và vùng phụ cận được kêu gọi dự MÍT TINH tại VƯỜN HOA CON CÓC (rond-point trước phủ Toàn quyền Pháp cũ, đă được Đốc lư Lai thời Chính phủ Trần Trọng Kim, đổi tên thành CÔNG TRƯỜNG BA Đ̀NH vào ngày 3 tháng 8 năm 1945), để Chính phủ Liên hiệp và Quốc Hội tŕnh diện Quốc dân. Trong buổi mít tinh, Hồ Chí Minh với tư cách Chủ Tịch Nước đọc bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP của NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG H̉A đầu tiên, sau gần 100 năm đất nước Việt Nam bị Thực Dân Pháp đô hộ.
Ngày 11 tháng 9 năm 1945, Quân ANH CÁT LỢI, đại diện LHQ đổ bộ xuống Phi trường TÂN SƠN NHẤT, Saigon, để thi hành việc giải giới Quân Phiệt NHẬT, trú đóng tại các vùng phía Nam Vĩ tuyến 16 của bán đảo Đông Dương. Quân ANH đă dung túng cho 300 quân PHÁP tháp tùng, tiến chiếm Saigon làm bàn đạp, rồi tăng cường thêm quân để tái chiếm toàn miền Nam VN chỉ trong ṿng có 5 tháng.
Lợi dụng t́nh h́nh này, Hồ Chí Minh nhân danh Chủ Tịch nước, kêu gọi toàn dân góp vàng, gọi là TUẦN LỄ VÀNG, để mua vũ khí ủng hộ NAM BỘ KHÁNG CHIẾN. Nhưng thực tế, phe nhóm Hồ Chí Minh đă dùng một phần số vàng này, đút lót cho Tướng Lư Hán và Bộ Tham mưu quân Tầu, để họ nhắm mắt làm ngơ cho bọn Hồ Chí Minh thi hành thủ đoạn đen tối, bắt bớ, giam cầm đầy ải, thủ tiêu các Lănh tụ và thành viên các Đảng phái Quốc gia không chịu ngả theo Cộng sản. Nhóm Hồ Chí Minh đă phao tin, đổ tội cho các nhóm Đảng phái Quốc gia là tiếp tay với ngoại bang, gây nguy hại cho đất nước, và phá hoại nền kinh tế Việt Nam. Vụ tàn sát các nhà yêu nước không theo Cộng sản này xong, Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh chiếm độc quyền Lănh đạo Quốc gia, tiến tới việc áp bức toàn dân Việt Nam phải sống theo Chế độ Cộng sản. Nay gọi là CỘNG HOÀ XĂ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
Cụ Nguyễn Hải Thần Phó Chủ Tịch Chính phủ Liên Hiệp, đă phải cầu cứu các Đảng Quốc gia không Cộng sản trong VNCMĐMH đang hoạt động tại Hànội, bảo vệ đưa trốn sang Tầu, qua ngả Lạng Sơn để tái lưu vong. (Tôi hồi đó là Học viên TRƯỜNG QUÂN CHÍNH của PHỤC QUỐC QUÂN (trong Tổ chức VNCMĐMH) đang nắm Chính quyền điều hành tỉnh Lạng Sơn, nên đă được vinh dự là một thành viên trong nhóm hộ tống Cụ Nguyễn Hải Thần, vượt qua ẢI NAM QUAN ở Đồng Đăng sang Thị trấn Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Hoa.)
Cựu Hoàng Bảo Đại, Cố vấn cho Chủ Tịch Chính phủ Liên Hiệp đang sống tại Hànội, cũng đă phải t́m cách thoát qua HỒNG KÔNG lưu vong.
Ngày 28 tháng 1 năm 1946, Quân ANH hoàn thành nhiệm vụ giải giới quân NHẬT xong rút đi, và trao quyền kiểm soát cai trị miền Nam VN, từ Vĩ tuyến 16 trở xuống cho ĐOÀN QUÂN VIỄN CHINH PHÁP. Ngày 4 tháng 2 năm 1946, Pháp tái lập NAM KỲ TỰ TRỊ. (Thời Pháp đô hộ trước 1945, nước Việt Nam bị chia làm 3 phần, với 3 quy chế cai trị khác nhau : BẮC KỲ BẢO HỘ (Protectorat du Tonkin), TRUNG KỲ thuộc NGUYỄN TRIỀU của Vua Bảo Đại (Royaume d'Annam), và NAM KỲ TỰ TRỊ (Cochinchine) một nhượng địa mà Vua GIA LONG hiến cho Pháp, tương tự như Hồng Kông của Trung Hoa đối với Anh Quốc, nhưng không quy định trong thời gian bao lâu.)
Ngày 6 tháng 3 năm 1946, lúc 16 giờ 30 tại nhà số 38 đường Lư Thái Tổ - Hà Nội, HỒ CHÍ MINH và VŨ HỒNG KHANH đă cùng SAINTENAY (đại diện Pháp) kư HIỆP ƯỚC SƠ BỘ, chấp nhận cho quân PHÁP thay thế quân Trung Hoa ở phiá Bắc Vĩ tuyến 16. Pháp nh́n nhận Việt Nam là một “quốc gia tự do” (état libre) trong Liên hiệp Pháp (union francaise); và nhân dân Việt Nam sẽ tự quyết định sự thống nhất lănh thổ của ḿnh qua một cuộc trưng cầu dân ư. Trong phụ ước về quân sự quy định 10,000 quân Việt Nam và 15,000 quân Pháp sẽ giữ nhiệm vụ “tiếp pḥng” 180,000 quân Trung Hoa. Pháp c̣n hứa sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam trong ṿng 5 năm. (Cao ủy D’Argenlieu rất bất măn về những phụ bản quân sự, v́ chính ông cũng chẳng biết ǵ về sự nhân nhượng lạ lùng này.) Đến ngày 3-4-1946 tại Hà Nội, Vơ nguyên Giáp, Vũ hồng Khanh lại cùng Valluy, Salan kư Phụ bản Hoà ước về quân sự, trong đó Việt Minh đồng ư cho Pháp trú đóng tại các nơi sau đây : Hà Nội, 5,000 lính; Hải Pḥng, 1,750 lính; Nam Định, 825 lính; Hải Dương, 650 lính; Điện Biên Phủ, 825 lính; Ḥn Gay, 1,025 lính. Dự định chiếm Nam Định vào ngày 7-4-1946.  Cuộc chiếm đóng này c̣n có mục đích bảo vệ hơn 20 ngàn Pháp kiều c̣n đang bị hẹt trên đất Việt Nam, từ sau ngày quân Phiệt Nhật lật Pháp giành quyền cai trị Đông Dương ngày 9-3-1945. (Saintenay là một nhân viên t́nh báo Pháp và Thiếu tá OSS Patti t́nh báo của Đồng minh chống Nhật hoạt động bên Trung Hoa, đă từ Côn Minh đáp phi cơ về Hà Nội từ ngày 22-8-1945, khi tới phi trường Gia Lâm đă được Hồ Chí Minh cho người của Việt Minh đón, đưa vào cư ngụ tại Phủ Toàn quyền Pháp cũ tại Hà Nội. V́ Saintenay không chịu cư ngụ tại nơi nào khác ngoài Phủ Toàn Quyền. Theo tài liệu hồi kư của Saintenay phổ biến công khai, th́ hồi Hồ Chí Minh c̣n đang ở trong “bưng” vùng Tuyên Quang, ngày 25-7-1945 Hồ Chí Minh đă nhờ toán AGAS Mỹ chuyển cho Saintenay một bức thư chấp nhận sự trở lại Việt Nam của Pháp, với điều kiện cho Việt Nam được Độc Lập trong ṿng từ 5 năm đến 10 năm.)
Thi hành Hiệp ước Sơ bộ do Hồ Chí Minh và Saintenay kư ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, Quân Viễn Chinh Pháp do LECLERC chỉ huy, dùng đường bộ đi từ Hải Pḥng lên Hànội, với sự bảo vệ an ninh của quân Việt Minh suốt dọc Quốc lộ 5 (Hải Pḥng, Kiến An, Hải Dương, Hưng yên, Hànội) vào ngày 18-3-1946.
Tháng 7 năm 1946, quân Pháp từ Tiên Yên tiến qua Đ́nh Lập, Lộc B́nh vào Thị xă Lạng Sơn, và lên Đồng Đăng nơi có Ải Nam Quan (biên giới Việt Nam - Trung Hoa). Trong khi đó th́ nhóm quân Pháp trốn qua Tầu, từ hồi bị quân Nhật lật đổ ngày 9 tháng 3 năm 1945, cũng từ đất Trung Hoa trở về chiếm đóng Cao Bằng, Thất Khê là 2 tỉnh biên giới cực Bắc của Việt Nam với Trung Hoa.
Sau khi kư Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 với Saintenay tại Hànội, theo sự sắp xếp của Pháp, Hồ Chí Minh dẫn đoàn tùy tùng rời Hà Nội sang Pháp ngày 31-5-1946, để dự Hội nghị Fontainebleau dự trù khai mạc vào ngày 6-7-1946, nhằm mặc cả chia chác quyền cai trị Việt Nam. Tại Pháp, Hồ Chí Minh đă đích thân vận động với các chính khách thuộc Cánh Tả thân Nga đang có mặt trong Chính phủ Pháp, nhưng chẳng đem lại kết quả nào khả quan. V́ Hồ Chí Minh lúc đó, đă tiêu diệt hết các thành phần đối lập với Việt Minh Cộng sản ở trong nước, nên không c̣n được Chính phủ Pháp coi là đại diện cho tất cả các thành phần chính trị và Tôn giáo của dân tộc Việt Nam nữa. Đặc biệt ngày 12-6-1946, Ngoại trưởng Pháp Goerges Bidault đích thân chỉ định Saintenay lo tiếp Hồ Chí Minh và đoàn tùy tùng sẽ tới Biarritz vào ngày 13-6-1946, và làm cách giữ Hồ đứng ngoài Hội nghị Fontainebleau, để Phạm văn Đồng làm trưởng phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị.
Trong hơn 3 tháng trời, Hồ Chí Minh và đoàn tùy tùng ở Pháp thương thuyết trong bế tắc, ngày 10-9-1946 Hội nghị Fontainebleau tan vỡ. Ngày 13-9-1946 tại Paris, Chính phủ Pháp phê chuẩn dự thảo Tạm ước (Modus vivendi) Moutet-Hồ Chí Minh. Theo Tạm ước này, hai bên hứa tôn trọng Hiệp ước Sơ bộ 6-3-1946; ngưng chiến tại Nam bộ từ ngày 30-10-1946; ngày và phương thức tổ chức trưng cầu dân ư sẽ ấn định sau; Pháp đồng ư trả tự do cho tù nhân chính trị; và, hai bên sẽ họp lại vào tháng 1-1947. Qua ngày hôm sau, 14-9-1946 vào lúc nửa đêm, Marius Moutet (Bộ trưởng Hải ngoại Pháp) và Hồ Chí Minh (Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) mới chính thức kư vào bản Tạm ước Pháp-Việt (đă được Chính phủ Pháp chấp thuận bản dự thảo từ ngày hôm trước).
Trong khoảng thời gian Hồ Chí Minh và đoàn tùy tùng thương thuyết ở bên Pháp, tại Việt Nam quân Pháp dùng bạo lực quân sự lấn chiếm các Cơ sở cũ của Pháp tại Hà Nội, củng cố các vị trí đóng quân, hoàn chỉnh hệ thống tiếp vận, dùng tiền và danh lợi tổ chức mạng lưới t́nh báo ḍ thám thực lực quân đội Việt Minh, chuẩn bị tấn công tiêu diệt Việt Minh tái lập CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA cũ.
Khi trở về đến Hà Nội với bản Tạm ước Pháp-Việt (Moutet-Hồ kư ngày 14-9-1946), Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh âm thầm ráo riết chuẩn bị kế hoạch TIÊU THỔ KHÁNG CHIẾN, với dự mưu đánh úp quân Pháp trước ngày hẹn tái họp các phái đoàn tại Pháp vào tháng 1-1947.
Mèo chuột gờm nhau măi, cũng phải đến lúc cuộc chiến bùng nổ vào ngày 19 tháng 12 năm 1946, cùng một lúc trên toàn dải đất Việt Nam, y như hồi NHẬT lật đổ PHÁP ngày 9 tháng 3 năm 1945.
Phe Hồ Chí Minh thất thế lo bảo toàn mạng sống, rút toàn bộ quân Chủ lực và Tự Vệ Thành ra khỏi Thành phố, áp bức dân chúng phải tản cư theo để làm b́nh phong chặn hậu, đỡ đạn cản đường săn đuổi của quân Pháp. Ai không tuân lệnh tản cư th́ lập tức bị Việt Minh xử bắn ngay tại chỗ, với mảnh án lệnh VIỆT GIAN ghi nghuệch ngoạc ghim trên ngực áo, để người khác thấy gương mà liệu thân. C̣n đi tản cư vào rừng sâu núi thẳm, th́ đói khổ không thực phẩm, bệnh hoạn không thuốc thang, lại c̣n bị các TỰ VỆ ĐỊA PHƯƠNG hạch sách, dọa nạt, trấn lột trắng trợn, phải câm nín chịu đựng, nếu không sẽ bị vu cho tội làm GIÁN ĐIỆP, VIỆT GIAN, bị giam cầm tra khảo đến chết một cách oan ức, không ai giám can thiệp.
Quân Pháp toàn thắng, bắt đầu tái dụng các Quan lại thời đô hộ cũ, và nhóm con lai Pháp, lập hệ thống Hành chánh cai trị, giúp dân chúng tái tạo cuộc sống b́nh thường tại các Đô thị. Chiến tranh tiếp tục lan tràn qua các tỉnh kế cận HàNội, đến các vùng nông thôn, dân chúng phải sống giữa 2 gọng kềm VIỆT MINH và PHÁP, vô cùng thảm thương bi đát.
Trước hoàn cảnh đó, các Nhân sĩ Việt Nam thương nước yêu ṇi, và thành viên các Đảng phái Quốc gia Không Cộng sản, thoát chết sau vụ Việt Minh tàn sát hồi đầu năm 1946, ngồi lại với nhau t́m giải pháp ôn hoà, giành lại Độc lập cho đất nước mà không phung phí xương máu của Dân tộc v́ chiến tranh, đă đi đến kết luận, vận động mời Cựu Hoàng Bảo Đại đang lưu vong tại Hồng Kông, đứng ra thương thuyết với Chính phủ Pháp, tái dựng QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT cả 3 miền, trong KHỐI LIÊN HIỆP PHÁP.
Ngày 19 tháng 8 năm 1947, Cựu Hoàng Bảo Đại từ Hồng Kông tuyên bố bằng ḷng đứng ra tiếp xúc điều đ́nh với Chính phủ Pháp. Măi tới ngày 5 tháng 6 năm 1948, trên chiếc tầu biển DUGUAY TROUIN, neo tại Vịnh HẠ LONG, Cựu Hoàng Bảo Đại mới tới để chứng kiến Thiếu tướng NGUYỄN VĂN XUÂN và mấy vị ĐẠI DIỆN CÁC MIỀN BẮC TRUNG NAM thuộc Chính phủ Trung Ương Lâm thời Việt Nam Thống nhất, cùng Ông BOLLAERT (đại diện Chính phủ Pháp) kư bản HIỆP ƯỚC HẠ LONG, công nhận QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT CẢ 3 MIỀN BẮC - TRUNG - NAM, trong KHỐI LIÊN HIỆP PHÁP.
          

Cờ Quốc gia Việt Nam mới là Nền Vàng với Ba Sọc Đỏ nằm dài chính giữa (theo h́nh Quẻ Càn của Bát quái trận đồ), hiện nay người Việt lưu vong tỵ nạn Cộng sản vẫn coi là biểu tượng Quốc gia gốc của ḿnh, và cũng đă được Ủy ban Văn Hoá Liên Hiệp Quốc và nhiều Thành phố, Quận, Tiểu Bang Hoa Kỳ chính thức công nhận bằng Nghị Quyết cho treo song hành với Cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tại các công sở, trường học, và nơi công cộng.

 

 

 

Một ngày sau, tức là ngày 6 tháng 6 năm 1948, QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI chỉ thị Thiếu Tướng Nguyễn văn Xuân Thủ Tướng Chính phủ Trung ương của nước Việt Nam Thống nhất cả 3 Miền, xúc tiến việc thành lập QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM (QĐQGVN), khởi sự bằng việc tổ chức TRƯỜNG SĨ QUAN VIỆT NAM HIỆN DỊCH tại Huế (tiền thân của Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt, sau này vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà tại miền Nam do ông Ngô Đ́nh Diệm làm Tổng Thống, lại cải danh thành TRƯỜNG VƠ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM, có giá trị tương đương với các trường Vơ bị Lục quân Saint Cyr của Pháp và West Point của Hoa Kỳ) để đào tạo cấp Chỉ huy, trước khi thành lập các ĐƠN VỊ TÁC CHIẾN và CƠ SỞ YỂM TRỢ TIẾP VẬN HÀNH CHÁNH.
Ngày 1 tháng 6 năm 1949, Khóa Sĩ Quan Hiện dịch đầu tiên tốt nghiệp tại Huế, được đặt tên là Khoá BẢO ĐẠI, cung cấp cho Bộ Quốc Pḥng chính phủ Việt Nam 53 THIẾU ÚY hiện dịch. Đồng thời 4 TIỂU ĐOÀN VIỆT NAM đầu tiên cũng được khởi sự thành lập tại 2 miền Nam và Bắc VN, nhưng măi tới ngày 1-10-1949 Bộ Quốc Pḥng mới ban hành Nghị định chính thức quy định việc thành lập : -Tiểu đoàn 1 VN (Bặc Liêu), -Tiểu đoàn 2 VN (Thái B́nh), -Tiểu đoàn 3 VN (Rạch Giá), -Tiểu đoàn 4 VN (Hưng Yên). (Tôi được cái vinh dự là một trong số 53 Sĩ quan Hiện dịch tốt nghiệp Khoá đầu tiên nêu trên, và được bổ nhiệm về Tiểu đoàn 2 VN tuyển mộ thành lập tại Hànội và Hải pḥng từ ngày 1-6-1949, huấn luyện xong vào khoảng tháng 10-1949 tập trung tất cả về HàNội, và khởi sự xuất phát đi hành quân tại các vùng Bắc Ninh, Hoà B́nh, Đông Triều, Hưng yên, rồi tiến sang tỉnh Thái B́nh, trụ quân tại đó ít lâu sau lại di chuyển về Sơn Tây, Hà Đông...).
Đến tháng 6 năm 1950, với sự thoả thuận của QUỐC HỘI PHÁP và sự thông báo chính thức của CHÍNH PHỦ HOA KỲ đồng ư cung cấp viện trợ Quân sự cho Việt Nam, Thủ Tướng TRẦN VĂN HỮU mới chính thức công bố thành lập QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM CHỐNG CỘNG SẢN, với quân số 60,000 người, chia ra phân nửa CHỦ LỰC QUÂN và phân nửa PHỤ LỰC QUÂN.
Ngày 26 tháng 10 năm 1956, hai năm sau khi thi hành HIỆP ƯỚC Đ̀NH CHIẾN GENÈVE tháng 7 năm 1954, không có tổ chức Tổng tuyển cử tại cả 2 miền Bắc và Nam Việt Nam như quy định. Tại miền Nam Việt Nam, qua một cuộc “Trưng cầu Dân ư”, toàn thể Dân chúng đồng ḷng quyết định phải thay đổi Chế độ Chính trị, tên nước đổi thành VIỆT NAM CỘNG H̉A, Tổng Thống đầu tiên là Ông NGÔ Đ̀NH DIỆM, và Tổng Thống Diệm đă quyết định cải danh QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM thành QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ (QLVNCH).

 

II.- V̀ SAO CHỌN  19 THÁNG 6 LÀM NGÀY QUÂN LỰC ?

 

Suốt từ khi QĐQGVN được thành lập thời Quốc trưởng BẢO ĐẠI, qua thời Ông NGÔ Đ̀NH DIỆM làm Tổng Thống, cả 2 vị Nguyên thủ Quốc gia này đều chỉ thị Bộ Tổng Tham mưu, nghiên cứu đề nghị một NGÀY KỶ NIỆM RIÊNG CHO QUÂN LỰC, để hàng năm tổ chức biểu dương lực lượng, cho Đồng bào Việt Nam và nhân dân Thế giới thấy được sự lớn mạnh của Quân Lực Việt Nam. Đồng thời cũng là ngày toàn quốc tổ chức LỄ TƯỞNG NIỆM, ghi nhớ công ơn các TỬ SĨ VIỆT NAM (Quân đội và Đồng bào các giới) đă VỊ QUỐC VONG THÂN, bảo vệ Tự do Dân chủ Nhân quyền Phồn vinh Hạnh phúc cho Dân tộc, và sự toàn vẹn lănh thổ Thống nhất của Quốc gia Việt Nam.
Chưa cuộc nghiên cứu nào được hoàn tất, trước khi các biến cố thay đổi lịch sử thời đại, đă tiếp theo nhau xẩy ra trên đất nước Việt Nam Cộng Hoà tại miền Nam thân thương của chúng ta.
Cho tới ngày 19 tháng 6 năm 1965, QLVNCH chính thức nhận viết một trang sử mới, lănh trách nhiệm với toàn DÂN đứng ra thành lập Chính phủ theo h́nh thức JUNTA (Có Ủy ban Lănh đạo Quốc gia, Chủ Tịch giữ vai tṛ QUỐC TRƯỞNG, và Ủy ban Hành pháp Trung ương, Chủ Tịch giữ vai tṛ Thủ Tướng) để điều hành đất nước, cải tiến nền ĐỆ NHẤT CỘNG HOÀ (theo mô thức Hoa Kỳ, Tổng Thống đích thân điều hành chính phủ) sang nền ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ (theo mô thức Pháp, dưới quyền Tổng Thống có Thủ Tướng điều hành chính phủ), th́ Tướng NGUYỄN VĂN THIỆU, Chủ Tịch Ủy ban Lănh đạo Quốc gia, mới ban hành văn kiện chính thức quy định ngày 19 THÁNG 6 là ngày kỷ niệm hàng năm của Quân lực Việt Nam Cộng hoà.
Ngoài ra, nếu truy lục Công báo Quốc gia trong suốt thời gian 15 năm trước, chúng ta sẽ thấy không biết do TIỀN ĐỊNH hay NGẪU NHIÊN, từ khi QĐQGVN được thành lập, có rất nhiều sự kiện thay đổi quan trọng về tổ chức, huấn luyện, cải tiến liên quan tới Quân đội đều xẩy ra vào tháng 6. Chẳng hạn :
-Tháng 6 năm 1949, Khóa Sĩ quan Hiện dịch đầu tiên của QĐQGVN tốt nghiệp, và 4 TĐVN đầu tiên được khởi sự thành lập, do chính Sĩ quan Việt Nam phụ trách tuyển mộ, huấn luyện, chỉ huy (nhưng không biết v́ sao măi tới ngày 1-10-1949, Bộ Quốc Pḥng mới ban hành Nghị định chính thức quy định việc thành lập : BVN 1 tại Bặc Liêu, BVN 2 tại Thái B́nh, BVN 3 tại Rạch Giá, BVN 4 tại Hưng Yên).
-Tháng 6 năm 1950, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam chống Cộng sản xâm lược, chính thức được Thủ Tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam công bố thành lập.
-Tháng 6 năm 1951, LỄ HƯNG QUỐC KHÁNH NIỆM VIỆT NAM đầu tiên, với cuộc duyệt binh các đơn vị Quân đội Quốc gia dưới lá Quốc kỳ Việt Nam (quẻ Càn, nền vàng với 3 sọc đỏ nằm dọc chính giữa suốt bề dài nền cờ), được tổ chức trọng thể tại Thủ đô Saigon dưới sự Chủ toạ của Cựu Hoàng Bảo Đại Quốc trưởng Việt Nam, và Ngoại giao đoàn gồm Đại Sứ các nước đă công nhận sự Độc lập Thống nhất của Quốc gia Việt Nam, sau gần 100 năm dân chúng phải sống dưới ách đô hộ của Thực Dân Pháp.
-Tháng 6 năm 1952, BỘ TỔNG THAM MƯU QĐQGVN được thành lập và bắt đầu hoạt động. Ngoài vị Tham Mưu Trưởng Liên Quân phụ trách điều khiển Bộ Tham mưu, TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG c̣n có 2 vị PHỤ TÁ KHÔNG QUÂN và HẢI QUÂN (mặc dù QĐQGVN chưa có Đơn vị Hải quân hay Không quân riêng). Vào cùng ngày, một TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU HUẤN LUYỆN CHIẾN THUẬT cũng được thành lập tại Hànội để đào tạo các Sĩ quan Tham mưu và Chỉ huy phối hợp Liên quân ở Cấp Trung Đoàn và Sư đoàn (sau này được biến cải thành Trường Đại Học Quân Sự, giống như Command and General Staff College của Quân lực Hoa Kỳ).
 
III.- NHỮNG KỶ NIỆM GHI NHỚ CỦA RIÊNG TÔI, VỀ NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6.
 
Mỗi lần kỷ niệm NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6, mỗi người tùy theo hoàn cảnh riêng đều ghi nhớ những kỷ niệm khác nhau. Riêng tôi, được may mắn phục vụ lâu năm trong các Cơ Sở Trung ương, thống thuộc Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH tại Saigon, nên ghi nhận được nhiều kỷ niệm đặc biệt, mà các chiến hữu phục vụ tại các địa phương, cũng như các Đồng bào ít quan tâm đến các sinh hoạt QUÂN ĐỘI, không thấy được. Tôi xin kể ra đây để Qúy Vị cùng chia sẻ những điều thích thú đó.
A.- 19 tháng 6 năm 1966, kỷ niệm NGÀY QUÂN LỰC lần đầu tiên, cũng là ngày kỷ niệm một năm hoạt động của Chính phủ NGUYỄN CAO KỲ, nên ĐẠI HỘI ĐỒNG QUÂN LỰC, e ngại nếu tổ chức rềnh rang giữa Thủ đô Saigon, th́ có thể bị BÁO CHÍ và các NHÓM ĐỐI LẬP phê phán là phung phí, kiêu binh, nên đă tổ chức rất khiêm tốn trong lănh địa của Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH (Trại Trần Hưng Đạo, Tân Sơn Nhất). Một số Đơn vị đại diện Hải, Lục, Không quân thuộc Chủ lực Quân, Địa phương quân, Nghiă quân, và Cảnh sát Quốc gia, được điều động về tham dự trong tinh thần đoàn kết HUYNH ĐỆ CHI BINH thắm thiết. (Lúc đó Tôi là Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Trung Ương Địa phương quân và Nghĩa quân, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tại Saigon, do Đại tá Trương văn Xương làm Chỉ huy trưởng.)
Đặc biệt trong cuộc duyệt binh này, có một h́nh ảnh rất ngộ nghĩnh dễ thương không bao giờ quên được là, Tướng VĨNH LỘC cùng Bộ Tham mưu Quân đoàn II từ PLEIKU về tham dự, ai cũng mặc trên người bộ SẮC PHỤC THƯỢNG miền Cao nguyên Trung phần VN, và ngồi trên lưng những con ngựa vùng Cao nguyên nhỏ thó, chớ không ngồi trên những chiếc xe Chỉ huy có cần Ăng-ten như các vị Tư lệnh khác.
B.- Năm 1967, để cùng toàn dân hân hoan đón mừng NỀN ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ sắp ra đời vào tháng 10, NGÀY QUÂN LỰC kỷ niệm lần thứ 2 được tổ chức rầm rộ trên Đại lộ TRẦN HƯNG ĐẠO, suốt từ dọc Bến Bạch Đằng trước Bộ Tư lệnh Hải quân, qua Công viên Quách thị Trang trước CHỢ BẾN THÀNH Saigon vào tận CHỢ LỚN. (Giữa Công viên trước Chợ Bến Thành có xây dựng tượng Danh Tướng TRẦN NGUYÊN HĂN, Thánh Tổ Binh Chủng Truyền Tin, ngồi trên lưng ngựa, một tay nắm con bồ câu dơ cao như đang sẵn sàng thả nó bay đem thư đi.)
Một đặc điểm đáng ghi nhớ về ngày kỷ niệm Quân lực lần thứ 2 này là, việc xây dựng đồng loạt những Tượng đài THÁNH TỔ các Quân Binh Chủng trong QLVNCH, Địa phương quân - Nghĩa quân, và Cảnh sát Quốc gia, tại tất cả các Công viên lớn trong Thủ đô SAIGON, để Đồng bào và Du khách ngoại quốc có dịp ghé Saigon chiêm ngưỡng, chụp h́nh kỷ niệm. Việc xây dựng các Tượng đài này c̣n có mục đích quan trọng khác, là chiếm hết các công viên để các đoàn biểu t́nh ngồi, của các nhóm Lănh tụ Phật giáo chống đối Chính phủ hồi đó không c̣n chỗ ngồi ĺ, gây ảnh hưởng và làm cản trở các sinh hoạt hàng ngày của Dân chúng. (Thánh Tổ của Địa Phương Quân và Nghiă Quân là vua Lê Lợi, người anh hùng áo vải đất Lam Sơn, được xây dựng tại Công trường Minh Phụng bên Chợ Lớn, ngay nơi cửa ngơ chính từ các tỉnh miền Tây dẫn vào Thủ đô Saigon.)
C.- Sau Quốc hận 30-4-1975,  ngày 15 tháng 6 năm 1975 là hạn chót CSVN quy định bắt tất cả Quân nhân các cấp trong QLVNCH, không di tản ra ngoại quốc, phải tŕnh diện để bị đưa đi lao động khổ sai trong các Trại Tập trung Cải tạo Tư tưởng của CSVN. Một năm sau cũng vào khoảng tháng 6, một số lớn (trong đó có Tôi) bị đưa đi lưu đầy nơi rừng sâu nước độc, tại miền đất Bắc Xă hội Chủ nghiă Việt Nam.
Một sự kiện đặc biệt mà tôi ghi nhận, trong suốt thời gian bị giam giữ qua 9 Trại khác nhau là, không biết ngẫu hợp hay theo chỉ thị của Trung ương đảng CSVN, năm nào cũng đúng vào ngày 19 tháng 6, chúng tôi không phải xuất Trại lao động. Được ở lại trong Trại giam, đem hết tư trang của ḿnh ra giữa sân, không kể ǵ thời tiết mưa hay nắng, bầy mỏng ra trước mặt theo từng Đội như ngồi bán Chợ Trời, để Cán binh cai tù vào kiểm tra lục xét. Mỗi lần như vậy, họ lại tịch thu tất cả những món nào mà cá nhân họ muốn lấy, với một câu phán lạnh lùng : “-Đồ cấm, Tù không được lưu giữ xử dụng.” Kỳ kiểm tra nào cũng mất suốt cả một ngày. Ngồi chờ đợi khám xét tư trang riêng và trong các pḥng giam, suốt từ sáng sớm tới xẩm tối mới xong. Ngay khi chấm dứt cuộc khám xét, bao giờ cũng có lệnh buộc chuyển đổi pḥng ngủ và nhà giam giữa các Đội, và phải thi hành “khẩn trương”.
D.- Ngày 19 tháng 6 năm 1988, tại Saigon đă xẩy ra một sự việc thật quan trọng không bao giờ quên được là, CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM không được phép tổ chức lễ quy mô, trọng thể để vinh danh hơn 1OO VỊ TỬ ĐẠO VIỆT NAM ĐƯỢC PHONG THÁNH theo lệnh của Toà Thánh Vatican, chỉ v́ ngày 19 tháng 6 là kỷ niệm của QLVNCH thuộc Chế độ Saigon cũ. (Đây là lời của Đại diện Chính quyền Cộng sản địa phương giải thích cho một vị Linh Mục cư ngụ tại Nhà Thờ 3 Chuông (Saint Thomas) Phú Nhuận, Saigon. Vị Linh mục khả kính này quen Tôi từ hồi c̣n bị giam chung trong Trại Z30D đă nói lại cho biết, nhân dịp Tôi ghé thăm và tâm t́nh về các chuyện thời sự. Vị Linh Mục này nguyên là Giáo sư dậy tại một Ḍng tu của Thiên Chúa Giáo tại Thủ Đức, trong lănh thổ tỉnh Gia Định, bị giam cả chục năm trời chỉ v́ một tội “âm mưu vượt biên” mà chính quyền địa phương gán cho Ngài. Thực ra Ngài không bao giờ có ư định vượt biên, mà chỉ cải trang mặc đồng phục cán bộ Cộng sản Việt Nam, để di chuyển được dễ dàng đến các nơi xa xôi hẻo lánh gặp “con chiên”, thừa hành Mục vụ theo chức năng Linh mục.)
E.- Suốt hơn 10 năm qua, định cư tỵ nạn Cộng sản Việt Nam tại Quận ORANGE Nam California (Thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn Cộng sản), có dịp được tham gia nhiều kỳ tổ chức LỄ KỶ NIỆM NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6, Tôi đă ghi nhận được một số kỷ niệm xúc động không sao quên được sau đây :
1- Năm 1994, Tổng Hội Ái hữu Chiến tranh Chính trị QLVNCH Hải ngoại tại Nam California, được các Hội đoàn Ái hữu Quân đội các Quân Binh chủng khác ủy nhiệm, đứng ra phối hợp tổ chức NGÀY QUÂN LỰC tại GARDEN GROVE PARK, rất rầm rộ, có phi cơ bay trên nền Trời Quận Orange kéo theo Đại kỳ Việt Nam Cộng Hoà (nền vàng 3 sọc đỏ), có Cựu chiến binh Hoa Kỳ nhẩy dù xuống ngay vị trí hành lễ mang theo Quốc kỳ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà.
Buổi lễ được rất đông Đồng hương tỵ nạn CSVN hưởng ứng tham dự, điều này chứng tỏ rằng T̀NH QUÂN DÂN CÁ NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ chưa hề phai lạt sau bao năm lưu vong. Một hiện tượng khác cũng rất đặc biệt là, lần đầu tiên được cả chục vị Tướng nguyên thuộc Hải, Lục, Không quân QLVNCH và Phu nhân, đang lưu vong tại các vùng thuộc Quận Orange và Quận Los Angeles cũng đến tham dự. (Lúc đó Tôi là Phó Chủ tịch Ngoại Vụ của Ban Chấp hành Tổng Hội Ái hữu Chiến tranh Chính trị Hải ngoại tại Nam California, do cố Trung tá Nguyễn Ngọc Thông làm Chủ tịch Tổng hội.)
2- Năm 1995, Hội Ái hữu Cựu Sinh viên Sĩ quan Trường Vơ bị QGVN Nam California, đến lượt được giao trách nhiệm phối hợp tổ chức NGÀY QUÂN LỰC, đồng thời vận động thành lập LIÊN HÔI CỰU CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG HOÀ NAM CALIFORNIA. Liên Hội đă được thành lập và Ngày Quân lực được tổ chức tại Công viên của Toà Thị Chính Thị xă Westminster.
Lần đầu tiên trong lịch sử tỵ nạn Cộng sản tại Nam California, người ta thấy lá QUỐC KỲ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, được trang trọng kéo lên, song hàng với lá QUỐC KỲ HOA KỲ, ngay tại các cột cờ danh dự trước Toà Thị Chính của Thị xă WESTMINSTER, mặc dù Chính phủ Hoa Kỳ đă lập bang giao với Cộng sản Việt Nam. Nhân dịp này, Hội đồng Nghị viên Thành phố WESTMINSTER cũng đă đọc bản QUYẾT NGHỊ, công nhận NGÀY QUÂN LỰC VNCH 19 THÁNG 6 là một biến cố được ghi thêm vào danh sách các ngày kỷ niệm của Thành phố WESTMINSTER. Các Sự kiện này đă làm Tôi và mọi người có mặt trong buổi lễ, xúc động nghẹn ngào, rưng rưng lệ, xót xa cho hoàn cảnh ĐẠI NẠN của DÂN TỘC VIỆT NAM chúng ta ở trong nước, đang c̣n phải chịu đựng sự cai trị tàn bạo vô nhân đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đài phát thanh BBC bên Anh quốc, cũng loan tin phóng sự buổi lễ này trong giờ phát thanh tiếng Việt của họ về Việt Nam, cho mọi người cùng biết.
3- Đặc biệt năm 1999, ông FRANK FRY Thị trưởng đương nhiệm của Thành phố WESTMINSTER được mời đến tham dự Ngày Quân lực 19 tháng 6, trong lời phát biểu ư kiến đă kêu gọi việc gây quỹ xây dựng TƯỢNG ĐÀI KỶ NIỆM CÁC CHIẾN BINH HOA KỲ VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ, đă hy sinh trong cuộc chiến chống Cộng sản để bảo vệ Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cho dân tộc Việt Nam trước 30 tháng 4 năm 1975, tại thị xă Westminster.
(Ông ta hăng hái làm việc này, để giữ lời hứa với cử tri người MỸ GỐC VIỆT từ mùa Thu năm 1996, tại Trung tâm sinh hoạt người Việt Quốc gia trên đường Moran, bên hông thương xá Phước Lộc Thọ khu Little Saigon, lúc ông ta đến vận động tranh cử chức Thị trưởng, trong buổi lễ bàn giao trách vụ Chủ Tịch Khu Hội Cựu Tù nhân Chính trị Nam California giữa Giáo sư Phan Ngô (tiền nhiệm) và Tôi (Nguyễn-huy Hùng tân nhiệm), trước sự hiện diện đông đủ các Hội trưởng thuộc Liên hội Cựu chiến sĩ QLVNCH Nam California, Đại diện các tổ chức đoàn thể Chính trị, một số Nhân sĩ, và khoảng gần 300 Cựu Tù nhân Chính trị thuộc Khu Hội Nam California.)
Theo dự tính th́ Tượng đài phải hoàn tất và khánh thành vào Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 2000. Nhưng v́ công tŕnh này làm mất thể diện và giảm uy tín của CSVN trước dư luận Thế giới một cách trầm trọng, nên CSVN và bọn tay sai trở cờ đón gió muốn hoà hợp hoà giải với CSVN, làm đủ mọi cách cản trở gây chậm trễ các tiến tŕnh thực hiện tại Thị xă Westminster. Mặc dù vậy, với quyết tâm của mọi người (trong đó có cả các vị ĐẠI DIỆN DÂN CỬ thuộc Tiểu bang California và Liên bang Hoa Kỳ), các khó khăn đă được vượt qua một cách suông sẻ, nhưng tiến tŕnh thực hiện đă không hoàn thành được đúng theo thời hạn mong muốn.
Ngày 20 tháng 1 năm 2001 (tức là ngày 26 tháng Chạp năm Canh Th́n), tại khu đất Thị xă Westminster dành để xây dựng Tượng đài Chiến sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà, Tổng Hội Sinh viên Nam California đă tổ chức Hội chợ Tết Tân Tỵ (2001), và trong chương tŕnh buổi Lễ Khai mạc Hội chợ cũng đă tổ chức đồng thời Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Tượng đài thật là trang trọng, với rất đông đảo Đồng hương Việt Nam và Hoa Kỳ cùng các Giới chức Công quyền Hoa Kỳ tham dự.
Năm 2002, mọi thủ tục hành chánh và kỹ thuật mới được hoàn tất đúng theo đ̣i hỏi. Trong một buổi họp công khai trước sự hiện diện của quần chúng, Hội đồng quản trị thị xă Westminster đă biểu quyết chấp thuận cho khởi công xây cất Tượng đài. Việc đấu thầu lựa chọn công ty đảm nhiệm xây cất được thực hiện kỹ lưỡng, và ngày 29 tháng 4 năm 2002, thị xă Westminster và Ủy ban xây dựng tượng đài đă long trọng tổ chức “Lễ xới đất” khởi công xây dựng khu CÔNG VIÊN TỰ DO. Ngày 23 tháng 9 năm 2002, pho tượng 2 chiến sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà đă được di chuyển từ xưởng đúc của điêu khắc gia Nguyễn Tuấn tại Laguna Beach, về thị xă Westminster để an vị trên đài nơi chính giữa CÔNG VIÊN TỰ DO (Sid Goldstein Freedom Park), đường All American Way (tên cũ là đường Monroe).
Năm 2003, Lễ khánh thành Công viên TỰ DO, với Tượng đài Chiến sĩ Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hoà, hiên ngang đứng trước 2 cột cao trương cờ Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng ḥa (nền vàng 3 sọc đỏ) tung bay, và đài lửa thiêng bập bùng cháy quanh năm suốt ngày đêm trước Tượng đài, đă được tổ chức trọng thể vào lúc 11 giờ ngày 27 tháng 4 năm 2003, và mở cửa đón khách thập phương đến chiêm ngưỡng.
Tượng đài chiến sĩ Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hoà tại Công viên Tự do bên đường All American Way của thị xă Westminster, trung tâm khu Little Saigon Thủ phủ của người Việt tỵ nạn Cộng sản, là một di tích lịch sử vĩ đại có một không hai trên Thế giới, được những người yêu chuộng Tự do Dân chủ Nhân quyền đóng góp, hoàn thành đúng mốc thời gian giao điểm giữa 2 Thế Kỷ 20 và 21.
Tượng đài Chiến sĩ Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hoà đem lại niềm vinh dự lớn lao cho Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà, và làm sáng danh CHÍNH NGHĨA của QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H̉A trong cuộc chiến chống Cộng sản Quốc tế từ tháng 6 năm 1949 đến 30 tháng 4 năm 1975 trên đất nước Việt Nam, tiền đồn của Thế giới Tự do ngăn cản làn sóng Cộng sản Quốc tế lan tràn xâm chiếm toàn vùng Á Châu và Thái B́nh Dương.
 Tượng đài Chiến sĩ Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hoà, c̣n là biểu tượng cho gương hy sinh và tinh thần chiến đấu kiên tŕ bất khuất của những người Chiến sĩ yêu chuộng Tự do Dân chủ và Hoà b́nh của Nhân loại.
Tượng đài Chiến sĩ Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hoà nhắc nhở, những ai trong quá khứ đă từng khoác áo lính Việt Nam Cộng hoà hay không khoác áo lính, nhưng đă cùng đứng dưới lá CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ chiến đấu chống Cộng sản để bảo vệ hạnh phúc cho dân tộc và sự toàn vẹn lănh thổ Việt Nam, phải luôn luôn nhớ rằng TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI QUỐC GIA DÂN TỘC VIỆT NAM CHƯA HOÀN THÀNH. Phải luôn luôn sáng suốt, đừng để bả lợi danh và những tiếng nỉ non tâng bốc ngọt ngào, của bọn Cộng sản gian xảo và tay sai đón gió trở cờ (kẻ thù của dân tộc) lôi cuốn, mà có những hành động và lời nói giúp cho chúng tồn tại lâu hơn nữa để tiếp tục hại dân hại nước. Hăy dứt khoát hăng hái tiếp tay đồng bào trong nước vùng lên loại bỏ bọn chúng sớm chừng nào hay chừng nấy, để cho quốc gia dân tộc Việt Nam không rơi vào ṿng đô hộ của Bá quyền Đỏ Trung Cộng.
Ngày 27 tháng 4 năm 2002, được cái hân hạnh hoà đồng cùng hơn 20,000 đồng hương Việt Mỹ tham dự buổi Lễ Khánh thành Tượng đài, Tôi đă cảm tác mấy vần thơ kỷ niệm, xin ghi lại để chư Vị cùng thưởng thức.

 

“ANH HÙNG TỬ, KHÍ HÙNG BẤT TỬ”


Quận Cam nắng Hạ chan hoà,
Bên nhau Việt Mỹ trẻ già hân hoan.
Cờ Hoa xen lẫn cờ Vàng,
Tung bay mở hội nghiêm trang đón mừng.
Tượng hai Chiến sĩ Anh Hùng,
Hiên ngang bất tử đứng cùng thời gian.
Gương hy sinh rạng mây ngàn,
Bao năm chiến đấu gian nan v́ đời.
Tự do sóng toả nơi nơi,
Nhân quyền, Dân chủ, người người hưởng chung.
Trọng thay nghiă khí kiêu hùng,
Khác da khác giống nhưng cùng ước mơ.
Mơ toàn nhân loại an hoà,
Công bằng , bác ái, nhà nhà ấm no.
T́nh thương dâng ngát muôn hoa,
Hoà đồng Sắc Tộc Mầu Da Giống Ṇi.

 

Để thay lời kết luận, cũng như trả lời cho những ai c̣n thắc mắc, v́ sao thua trận phải lưu vong tỵ nạn, mà hàng năm vẫn c̣n tổ chức kỷ niệm một Quân lực không c̣n sự hiện diện. Tôi xin phép dùng bài Thơ sau đây, nói lên tâm trạng của người CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM CỘNG HOÀ, với đề tựa:

 

TRÁCH NHIỆM CHƯA HOÀN THÀNH.
 
Bao năm nếm mật nằm gai,
Dấu giầy đo bước sông dài, rừng sâu.
Ngày đêm lận đận ải đầu,
V́ Dân đâu ngại dăi dầu gió sương.
Dốc ḷng bảo vệ Quê hương,
Chống loài Qủy Đỏ Bắc phương bạo tàn.
Bốn mùa chiến đấu hiên ngang,
Giúp Dân xây dựng Xóm Làng yên vui.
Chớ trêu Tai kiếp Giống ṇi,
Đồng minh phản bội, chơi vơi bẽ bàng.
Hoạt đầu Lănh tụ hai mang,
Hô quân buông súng đầu hàng cầu vinh.
Ô danh bại Tướng bán ḿnh,
Thế gian nguyền rủa, miệt khinh đời đời.
Thương Dân bỏ xác biển khơi,
Xót Quân lao khổ, giữa nơi ngục tù.
Hận thù chồng chất Thiên thu,
Non sông tan tác, xác xơ t́nh người.
Tha phương trăn trở khôn nguôi,
Đồng ḷng hiệp sức muôn người chung lo.
Dẹp tan Cộng đảng vong nô,
Cùng nhau dựng lại cơ đồ Việt Nam.

 

NGUYỄN-HUY HÙNG
Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng hoà,
Phụ tá tổng Cục trưởng Chiến tranh Chính trị,
Kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến,
Cựu Tù Chính trị lưu vong tỵ nạn Cộng sản Việt Nam.


 
 

Sau đây là một vài h́nh ảnh ghi nhận trong ngày Lễ Khánh thành Tượng đài Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà và Đồng minh Hoa Kỳ đă hy sinh trong các trận chiến Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, tổ chức tại công viên Sid Goldenstein Freedom Park (Công viên Tự do) đường All American Way, thành phố Westminster, quận Orange, miền Nam California vào lúc 11 giờ trưa ngày 27 tháng 4 năm 2003.
 

 

Từ trái qua phải, hàng đầu : Đề đốc Trần văn Chơn, Tướng Lư Ṭng Bá, Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tướng Trần văn Nhật. Hàng thứ 2 : Tướng Lê văn Thân, Tướng Lê Minh Đảo, Đốc sự Vương Quốc Quả, Đại Tá Nguyễn-Huy Hùng.

 

H́nh trên, Hàng cờ các Quốc gia Đồng Minh đă tham gia hỗ trợ Quân lực Việt Nam Cộng hoà trong cuộc chiến trước 30 tháng 4 năm 1975   để chống Cộng sản Quốc tế (do Cộng sản Việt Nam là tay sai làm đoàn quân tiên phong) xâm lăng miền Nam Việt Nam.
H́nh dưới, một số cựu Chiến binh Việt Nam Cộng hoà, sát cánh cùng hơn 20 ngàn đồng hương Việt Nam lưu vong tỵ nạn Cộng sản   Việt Nam trên toàn Hoa Kỳ và Âu Châu, Canada, tham dự lễ Khánh thành Tượng đài Chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà và Hoa Kỳ, tại    Công viên Sid Goldenstein Freedom Park (Công viên Tự do) tại đường All American Way, thành phố Westminster, quận Orange,   Tiểu Bang California, Hoa Kỳ, vào buổi trưa ngày 27 tháng 4 năm 2003 nắng đẹp.


1 1