. T̀M HIỂU VỀ TẾT TRUNG THU

                                        Khiết Châu Nguyễn-Huy Hùng.

Hàng năm gia đ́nh người dân Việt nào cũng thường tổ chức 2 lễ hội lớn tại nhà riêng như một tục lệ không thể thiếu. Đó là Tết Nguyên Đán (ngày đầu năm Âm lịch) để cúng Trời Đất, Thần linh, Tổ Tiên, cầu xin phù hộ cho được sức khoẻ may mắn làm ăn hanh thông phát đạt hơn năm cũ, và Tết Trung Thu (ngày Rằm tháng 8 Âm lịch) cũng để cúng Trời Đất, Gia Tiên, rồi bầy cỗ bánh Trung Thu trái cây uống trà ngắm trăng Rằm tháng 8, đồng thời tỏ ḷng thương yêu đối với trẻ nhỏ và thực hiện việc nhớ ơn các ân nhân cùng thân bằng quyến thuộc bằng tục lệ biếu quà bánh.
Những món đặc biệt dùng trong Tết Nguyên Đán là bánh chưng, bánh dày, mứt. Những món dùng trong Tết Trung Thu là bánh dẻo, bánh nướng, và trái cây đặc biệt phải có bưởi.
Các nhà khảo cứu đă viết thành sách về những phong tục tập quán của Dân Tộc Việt Nam và phổ biến cũng đă nhiều. Nhưng v́ chúng ta bận bịu đa đoan hàng ngày, ít có th́ giờ t́m mua và ngồi đọc để kể lại cho các thế hệ trẻ biết tường tận về nguồn gốc của các tục lệ giá trị dễ thương này.
Hôm nay nhân dịp đầu Xuân ngày dài tháng rộng, với khả năng hiểu biết hạn hữu của ḿnh, người viết xin cố gắng cống hiến quư độc giả câu truyện thật ngắn gọn về Tết Trung Thu, nếu có điều ǵ thiếu sót xin quư vị cao minh vui ḷng bổ túc giùm, muôn vàn đa tạ.
Tại Châu Á Thái Binh Dương, chỉ có dân tộc Trung Hoa và dân tộc Việt Nam là dùng cả Âm Lịch lẫn Dương Lịch để xem ngày tháng. Các dân tộc khác trong vùng, chỉ thấy họ dùng Dương Lịch như các dân tộc phương Tây mà thôi.
Cả 2 dân tộc Hoa và Việt đều vui Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu, do đó người ta kết luận là chúng ta chịu ảnh hưởng người Trung Hoa sau cả ngàn năm lệ thuộc sự đô hộ của họ.
Nhận xét này cũng có phần đúng, nhưng nhờ tinh thần ư chí Việt tộc kiên cường bất khuất nên đă không bị đồng hoá, chúng ta chỉ thâu nhận những cái hay cái đẹp hợp Đạo Trời và Đạo Người, để áp dụng cho nếp sống trong xă hội ngày một thăng tiến mà thôi.
Do đó trong dịp Tết Trung Thu, người Việt chúng ta có những tục lệ riêng mà người Hoa không có.
Vào dịp Tết Trung Thu, chúng ta làm cỗ cúng Trời Đất Gia Tiên, ngoài các món ăn mặn rượu trà phải có bánh Trung Thu và một đĩa trái cây (đặc biệt phải có bưởi đào bóc và lột các múi lộn ngược cho các tép xoè ra như gai lông nhím để kết thành h́nh con Lân).
Đến tối, người lớn bầy “Cỗ Chung Giăng” (nói theo giọng người Bắc có lẽ là cỗ người lớn và trẻ con ăn chung để ngắm trăng) trên chiếc bàn nơi giữa sân nhà, để chập khuya mọi người tụ họp thưởng thức và ngắm trăng. Bàn cỗ bao giờ cũng phải có mâm trái cây, bánh Trung Thu, kẹo, nước trà, và đặc biệt có các con giống nhỏ (đồ chơi cho con trẻ) nặn bằng đất nung hoặc bằng bột cứng tô điểm mầu sắc sặc sỡ, để chia cho trẻ gọi là “phá cỗ” trước khi mọi người cùng ăn bánh uống trà ngắm trăng. Các loại con giống thường là gà trống, chim công, trâu, ḅ, ngựa, rồng, rắn, các đồ gia dụng nhỏ xíu…, và người nộm ông Tiến Sĩ Giấy với đủ mũ măo quần áo cân đai cờ biển đàng hoàng, ngồi trên ghế bành làm bằng nan tre và giấy mầu, đă được nhà đại thi hào Yên Đổ Nguyễn Khuyến miêu tả qua 2 bài thơ theo thể Thất ngôn Bát cú sau đây :
“Ông Nghè Giấy.
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông Nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên khoa giáp bảng,
Nét son điểm rơ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi.

Rơ chú hoa man khéo vẽ tṛ,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi?
Giấy má nhà bay đáng mấy xu?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng, bia đá vẫn ngàn thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu!”

Và bài Thơ vịnh “Tiến Sĩ Giấy” của đại thi hào Tú Xương :
“Ông đậu khoa nào, ở xứ nào?
Thế mà hoa hốt với trâm bào.
Năm năm cứ Tết Trung Thu đến,
Tôi vẫn quen ông, chẳng muốn chào!”

Những nhà giầu sang, quan quyền quư phái, tiệm buôn lớn, c̣n treo thêm nơi hiên trước cửa nhà một “lồng đèn kéo quân” (trong Nam gọi là đèn cù), để mọi người xem các h́nh bóng quân chạy ṿng tṛn hiện trên mặt giấy bổn (giấy mờ đục) bao chung quanh đèn, như xem phim chiếu bóng. Thường thường, người ta cắt các quân theo điển tích như : Vinh quy bái tổ, lọng anh đi trước vơng nàng theo sau; Thầy tṛ Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Chu Bát Giới, Sa Tăng, và con ngựa Bạch Long đi Tây Tạng thỉnh kinh; Đám cưới rước Dâu theo cổ tục Việt Nam…
Ngay khi trời vừa tối, bọn trẻ nhỏ được tụ họp thành từng nhóm, tay cằm các loại đèn xếp, đèn nan h́nh con cá, bươm bướm, ông sao, con thỏ, tầu bay,… làm bằng giấy bóng trong đủ mầu sắc, có đốt nến cho sáng, nối đuôi nhau đi dạo trên lề đường phố ca hát vui vẻ. Từ những năm thuộc Thập niên 1930 trở đi, chính quyền c̣n ban hành văn kiện chính thức công nhận ngày Rằm tháng 8 Âm lịch là ngày Tết Nhi Đồng. Các trại gia binh, các cơ sở xă hội thiện nguyện, cả các cơ quan Quận Huyện, đều lo tổ chức phát bánh, đèn Trung Thu, và tŕnh diễn văn nghệ cho trẻ thuộc lứa tuổi Ấu Thiếu nhi tham gia vui hưởng. Có Nhạc sĩ đă sáng tác bài hát “Rước đèn trung Thu” rất hay, cho trẻ đồng ca một cách thích thú trong khi đi rước đèn :
“Tết Trung Thu rước đèn đi chơi,
“Em rước đèn đi khắp phố phường.
“Ḷng vui sướng với đèn trong tay,
“Em múa ca trong ánh trăng Rằm.
“Đèn ông sao với đèn cá trắm,
“Đèn Thiên nga với đèn bươm bướm.
“Em rước đèn này đến cung trăng,
“Đèn xanh lơ với đèn tím tím.
“Đèn xanh lam với đèn trắng trắng,
“Trông ánh đèn rực rỡ muôn mầu.
“Tùng, dinh dinh, cắc tùng dính dính…
(bài hát c̣n 2 đoạn nữa)
Ngoài ra, chúng ta c̣n có lệ người lớn lập các đoàn múa Sư tử (Lân tượng trưng cho điềm lành) đến từng cửa tiệm buôn lớn, nhà giầu hoặc có địa vị trong địa phương, múa Lân vờn Ông Địa biểu diễn để mang điềm lành đến cho gia chủ. Đáp lại thịnh t́nh này, gia chủ đốt pháo mừng Lân và treo giải thưởng (tiền) trên ngọn cây sào cao, để thành viên trong đoàn Lân phải công kênh (trèo đứng lên vai nhau) thành h́nh trụ tháp ba bốn tầng cao, cho Lân đứng trên đỉnh vờn múa mà lấy giải.
Tại các làng xóm đồng quê, c̣n có lệ trai gái tụ tập nơi công cộng hát “trống quân” suốt đêm, để vui chơi giải trí và t́m chọn bạn trăm năm. Họ đối đáp nhau bằng các câu hát soạn theo thể thơ Lục Bát hoặc Lục Bát Biến Thể, đệm các tiếng trống đánh nhịp ba “Th́nh! Thùng! Th́nh!”.
Các Cụ nhà Nho và nhà Nông, c̣n nhân dịp ngắm trăng Rằm tháng 8 lúc nửa khuya, để đoán thời tiết cho mùa màng và vận mệnh Quốc gia trong những ngày sắp tới. Nếu trăng Thu mầu vàng th́ năm đó trúng mùa tầm tơ, mầu xanh hay lục th́ sẽ có thiên tai, mầu cam trong sáng th́ đất nước được thịnh trị… Nếu chung quanh mặt trăng xuất hiện vầng hào quang nhỏ gọi là Quầng, vầng hào quang rộng gọi là Tán, th́ được giải đoán theo câu ca dao : “Quầng cạn, Tán mưa.” (cạn là thiếu mưa th́ bị hạn hán, mưa nhiều th́ nước tràn sông vỡ đê gây ra lũ lụt, cả 2 đều làm hư hại mùa màng gây nạn đói và bệnh hoạn thời khí).
Muốn ngắm trăng lúc nửa khuya, phải ngửa mặt lên không trung măi th́ mỏi cổ, nên các Cụ lấy một chậu đựng đầy nước trong, đặt một chiếc gương soi mặt vào ḷng chậu, rồi ngồi ghế chung quanh chậu vừa ăn bánh uống trà nói truyện và ngắm trăng trong gương, thấy rất rơ ràng mà không mệt mỏi.
Hồi c̣n nhỏ, hàng năm cứ đến dịp Tết Trung Thu. cả nhà quây quần bên “mâm cỗ chung giăng” bầy nơi giữa sân trước nhà, dưới ánh sáng trong dịu hiền của vầng trăng Rằm, chúng tôi thường được Ông Bà kể cho nghe đến 3 truyện khác nhau về nguồn gốc Tết Trung Thu bên Tầu. Nên chẳng biết truyện nào là “chính tông con ṇng nọc” cả, do đó người viết xin ghi cả ra đây để quư vị cùng đọc chơi cho vui.
Chuyện thứ nhất kể rằng : “Ngày xưa vào một đêm Rằm (15) tháng 8 Âm lịch, cảnh thiên nhiên ban đêm thật là đẹp, vầng trăng to tṛn và trong sáng lơ lửng giữa không trung xanh mơ cao vút, thời tiết mát mẻ, vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển. Đang thưởng thức cảnh đẹp th́ bỗng gặp đạo sĩ La Công Viễn c̣n được gọi là Diệp Pháp Thiện có phép Tiên, đưa nhà vua lên thăm cung trăng, cảnh trí tuyệt vời hơn nơi trần thế rất nhiều. Trước cảnh các nàng tiên nữ trong những bộ xiêm y đủ mầu xinh tươi, thướt tha múa hát dưới ánh sáng huyền diệu và âm thanh du dương của những khúc nhạc, lúc dịu êm nhẹ nhàng lúc thánh thót vút cao, nhà vua hân hoan thưởng thức quên cả thời gian đă gần sáng mà không hay. Đạo sĩ phải nhắc nhà vua mới sực tỉnh ra về, ḷng bàng hoàng luyến tiếc.
Về tới Hoàng Cung mà ḷng vẫn c̣n vương vấn cảnh cung tiên, nên nhà vua ban lệnh cho Nhạc Công chế ra “Khúc Nghê Thường Vũ Y”, và hạ chiếu ban truyền trong dân gian hàng năm vào đêm Rằm tháng 8 phải tổ chức rước đèn và bầy tiệc ăn mừng. Vào đêm đó nhà vua cũng cùng Dương Quư Phi ngồi trong vườn Ngự uyển uống rượu dưới trăng và ngắm đoàn Cung Nữ mùa hát “Khúc Nghê Thường Vũ Y” để kỷ niệm lần viễn du Nguyệt Điện của ḿnh.
Kể từ đó việc rước đèn bầy tiệc thưởng trăng trong đêm Rằm tháng 8 trở thành phong tục của dân gian Trung Hoa.”
Truyện thứ hai cũng là truyện vua Đường Minh Hoàng, nhưng hơi khác với truyện trước : “Ngày Rằm tháng 8 Âm lịch là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng, nên triều đ́nh nhà Đường ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước phải treo đèn và bầy tiệc giữa trời để mọi người ăn mừng chúc thọ nhà vua. Từ đó về sau, hàng năm cứ đến ngày Rằm tháng 8 Âm lịch, dân gian lại được nhắc nhở thực hiện việc bầy tiệc treo đèn mừng ngày sinh nhật của vua. Dần dà, mỗi năm đều phải làm như vậy măi nên đương nhiên trở thành tục lệ.”
Truyện thứ ba : “Vào thời Tây Hán bên Tầu (từ năm 206 trước Tây lịch đến năm 23 sau Tây lịch) có Tướng tên là Lưu Tư đem quân đi đánh trận, bị vây hăm, quân t́nh hết lương khốn đốn, ông đă cầu xin Thượng Đế giúp cho quân có lương ăn trong khi chờ quân tiếp viện. Sau khi cầu xin Thượng đế, quân lính t́m được khoai môn và bưởi để ăn. Nhờ thoát nạn đó, về sau Lưu Tư b́nh định được toàn đất nước và lên làm vua lấy hiệu là Quang Vơ nhà Hậu Hán.
Ngày mà Lưu Tư cầu Thượng Đế được linh ứng là ngày Rằm tháng 8. Do đó sau khi lên làm vua, Quang Vơ đă ra lệnh cho dân gian hàng năm cứ đến ngày Rằm tháng 8 Âm lịch phải làm lễ tạ ơn Trời Đất, và thưởng trăng bằng khoai môn và bưởi. Ngày lễ trọng thể vui tươi này được gọi là Tết Trung Thu.
Tục lệ này được truyền sang nước Việt Nam chúng ta, và đă được các Cụ sửa đổi cho thích hợp với tính t́nh và phong tục dân tộc Việt Nam.”
Đấy là các truyện về Tết Trung Thu của dân gian Trung Hoa. Các thi sĩ gọi mặt trăng là Hằng Nga, Chị hằng, Cung Quảng, Nguyệt Điện…
Tại nước ta, vào những ngày Rằm trăng tṛn không nhất thiết là Rằm tháng 8, ngồi ngắm trăng thường thấy có một bóng đen mờ mờ trông như một cây có gốc thân lớn và tán lá rộng như cây đa nổi bật trên mặt vầng trăng sáng trong dịu, Tôi thắc mắc hỏi người lớn th́ được nghe đọc mấy vần ca dao sau :
“Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời!
Cha c̣n cắt cỏ trên Trời,
Mẹ c̣n cỡi ngựa đi mời quan viên…” với câu truyện “Thằng Cuội” rất lư thú dưới đây :
“Ngày xưa ở một miền nọ có thằng Cuội làm nghề đốn củi. Gia tài chỉ có chiếc ŕu duy nhất. Một hôm vào rừng sâu lội qua sông t́m cây để đốn, nó giật ḿnh thấy một hang hổ chỉ có 4 cọp con đang vờn rỡn với nhau. Nh́n quanh không thấy Hổ mẹ, Cuội quơ ŕu giáng cho mỗi con một nhát chết nằm ngay đơ. Vừa lúc đó có tiếng Hổ gầm trong bụi gần đó. Cuội vội trèo lên cây cao lánh mặt và ŕnh. Hổ mẹ vào hang thấy các con đă chết, gầm thét kinh hoàng. Giây phút sau, Hổ mẹ đi đến một cây gần đó, ngoạm mấy chiếc lá tha về nhai mớm vào miệng các con. Bỗng dưng 4 cọp con hồi tỉnh, đùa rỡn như thường. Hổ mẹ dẫn các con đi nơi khác. Cuội vui mừng biết đó là cây thuốc thần linh diệu. Chờ hổ dẫn con đi khuất một lúc lâu, Cuội mới tuột xuống đến bới gốc đánh cây thuốc quư đem về nhà trồng sau vườn chờ khi hữu sự sẽ dùng.
Trên đường về, Cuội gặp một ông lăo nằm chết bên lề cỏ, bèn nhai lá mớm vào mồm ông lăo. Kỳ diệu làm sao, chỉ ít phút sau ông lăo sống lại, cám ơn và nói : “Lăo nghe nói cây này là thuốc cải tử hoàn sinh, tên là Cây Đa. Nhờ có phước lớn, lăo mới gặp được con cứu sống. Hăy mang về trồng săn sóc cẩn thận để cứu nhân độ thế. Nhớ đừng tưới bằng nước dơ, cây sẽ bay về Trời mất đấy.”
Cuội đem về trồng ở phía Đông trong vườn nhà, hàng ngày tưới bằng nước giếng trong sạch. Mỗi khi nghe có tin người mới chết, Cuội liền đem lá t́m đến tận nhà để cứu sống được rất nhiều người. Tin đồn Cuội có phép lạ cứu người chết sống lại lan truyền khắp mọi nơi.
Một hôm, Cuội bơi qua sông thấy một con chó chết trôi, vớt lên bờ nhai lá mớm cứu chó sống lại. Con chó mừng rỡ quấn quưt theo luôn, thế là từ đó Cuội có thêm bạn mới ngày đêm quanh quẩn bên ḿnh nên cũng đỡ quạnh hiu.
Một lần khác, phú ông ở làng bên hớt hơ hớt hải chạy đến t́m Cuội, xin cứu con gái cưng mới trượt chân té ao chết đuối. Cuội đến nơi nhai lá mớm vào mồm cô gái, chẳng bao lâu sắc diện nàng đang nhợt nhạt trở nên hồng hào, rồi sống lại vươn vai ngồi lên mỉm cười. Để trả ơn cứu sống con gái ḿnh, phú ông nói Cuội muốn bất cứ thứ ǵ cũng sẽ chiều theo ngay. Cuội ngỏ lời muốn lấy cô gái làm vợ. Cả phú ông lẫn cô gái đều ưng chịu ngay. Từ đó 2 vợ chồng Cuội và con chó sống bên nhau êm đềm hạnh phúc.
Nhưng trớ trêu thay, bọn trai trong vùng đă từng ngấp nghé theo cô gái, nay bị Cuội lấy mất nên hận t́m cách trả thù cho bơ ghét. Chúng chờ lúc Cuội vào rừng đốn củi, rủ nhau đến nhà bắt cóc nàng đem đi. Nhưng bị nàng chống cự mănh liệt quá không thực hiện được ư định, nên chúng phải giết chết. Chúng biết Cuội có phép lạ có thể cứu vợ sống lại, nên sau khi giết chết c̣n mổ bụng moi bộ ḷng vứt xuống sông cho yên bụng. Tối đến, Cuội về tới nhà thấy vợ đă chết lạnh cứng từ bao giờ, liền nhai lá thuốc mớm hoài nhiều lần mà vợ vẫn không sống lại. Buồn rầu than khóc thảm thiết, con chó thấy vậy quyết định hy sinh, đề nghị Cuội lấy bộ ḷng của nó nhét vào bụng cô chủ để cứu cho nàng sống lại. Cuội chưa hề làm việc đó bao giờ, nhưng v́ thương tiếc vợ quá đành làm thử. Kỳ diệu thay nhờ có bộ ḷng của chó trong bụng, vợ Cuội đă sống lại. Thấy con chó có nghiă, không nỡ để nó chết, Cuội bèn nặn một bộ ḷng bằng đất nhét vào bụng chó, rồi nhai lá mớm vào miệng nó để cứu thử. Kỳ diệu làm sao, con chó cũng sống lại như thường. Nhưng không ngờ từ đó trở đi, tính nết vợ Cuội có phần thay đổi, dường như mắc chứng lú ruột lú gan, bảo một đàng làm quàng một nẻo, khiến Cuội bực ḿnh và lo sợ. Mỗi ngày trước khi đi rừng đều dặn vợ: “-Có đái th́ đái bên Tây, chớ đái bên Đông, cây dông lên trời.”
Thế rồi một buổi chiều kia, Cuội đi rừng chưa về, vợ ở nhà đang hái rau bên phiá Đông vườn, mót tiểu quá bèn chạy đến bên gốc cây quư của chồng vén váy ngồi tè thoải mái. Không ngờ vừa tiểu xong, tự nhiên cả một vùng đất chuyển động, tất cả cây cối xung quanh cũng rung chuyển, gió thổi ào ào. Được một chốc, cây đa long gốc bật rễ, lừng lững bay lên trời. Vừa lúc đó Cuội về tới cổng, thấy cây quư sắp bay mất và vợ chàng đang đứng gần bên kêu la om ṣm.
Đoán biết truyện ǵ đă xẩy ra, Cuội chỉ kịp vứt gánh củi xuống đất, chạy bay đến níu cây lại. Lúc đó gốc cây đă rời mặt đất lên quá đầu người, Cuội chỉ kịp đưa ŕu lên móc vào rễ cây để kéo xây xuống. Nhưng cây tiếp tục bốc lên, không sức nào có thể ngăn lại được. Cuội cũng nhất định không chịu buông ŕu, thành thử cây thần kéo luôn cả Cuội lên theo, lên măi, lên măi, cuối cùng đến tận cung trăng. Từ đó, Cuội ở luôn tại cung trăng với cây đa của ḿnh. Cho nên ngày nay mỗi khi nh́n lên mặt trăng, ta luôn luôn thấy bóng của Cuội ngồi dưới gốc cây thuốc quư của ḿnh. Người ta c̣n kể rằng, mỗi năm cây đa chỉ rụng có một lá mà thôi, ai nhặt được chiếc lá ấy có thể dùng để cứu người chết sống lại. Bầy cá heo cũng biết như vậy, cho nên nếu lá rơi xuống biển, chúng cũng tranh nhau đớp lấy, coi như là của quư để làm thuốc cứu chữa cho ṇi giống.”
Hiện nay ở Hải ngoại, nơi nào có người Việt định cư tỵ nạn Cộng sản, hàng năm đều thấy các chợ rao bán bánh Trung Thu, và đèn Trung Thu. Các đoàn thể kêu gọi mạnh thường quân tiếp tay để có phương tiện tổ chức Lễ Hội Trung Thu tại nơi công cộng, phát bánh, đèn, và tŕnh diễn văn nghệ cho các Thiếu Ấu nhi con các gia đ́nh Mỹ gốc Việt đến tham dự vui chơi. Thật là một việc làm rất đáng ca ngợi, và mọi người gốc Việt Nam nên tích cực hỗ trợ duy tŕ măi măi.
Người viết đă có dịp tới quan sát, ḷng xốn xang nhớ lại thời thơ ấu nơi quê nhà, đă cảm tác mấy vần thơ sau đây vào mùa Thu 1999 tại Khu Little Saigon, Quận Orange, Nam California, xin ghi lại để chư vị độc giả cùng thưởng thức thay cho lời kết của bài viết.
NHỚ THU XƯA.
Không gian bàng bạc sóng trăng mơ,
Vạn vật mênh mông ảo ảnh mờ.
Đèn giấy long lanh vờn bóng nguyệt,
Sáo diều vi vút thả hồn thơ.
Bánh chay lài tỏa hương d́u dịu,
Trà mạn sen dâng ư dật dờ.
Thấp thoáng quân cù quay tán gió,
Dập d́u trai gái hát bông lơ.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG.

 

1 1 1 1