TỤC LỆ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM,
ĐÁM CƯỚI PHẢI CÓ LÁ TRẦU,  TRÁI CAU VÀ  SÁP VÔI.

    

Từ ngày tới Hoa Kỳ định cư tỵ nạn Cộng sản Việt Nam, Tôi đă được mời tham dự nhiều đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Bao giờ nhà Trai cũng phải có phái đoàn hùng hậu, bưng lễ vật tới nhà Gái để xin rước Dâu. Nhưng lẻ tẻ chỉ thấy một vài trường hợp c̣n giữ tục lệ xưa, buộc nhà Trai phải nộp kèm theo  các lễ vật, 3 món đặc biệt là Trầu, Cau, và Vôi.
Nhiều bạn trẻ theo gia đ́nh tới định cư tại Hoa Kỳ trong thời tuổi c̣n thơ ấu, hoặc được sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, chưa có dịp nghe kể hoặc không đọc được các sách viết bằng Việt ngữ để tự t́m hiểu, lấy làm lạ thường hỏi Tôi tại sao trong đám cưới lại phải cần có 3 thứ đặc biệt đó ?
Hôm nay nhân dịp các bạn trẻ gốc ḍng giống Việt Nam, Sinh viên Đại học IOWA, tổ chức mừng Tết Việt Nam, đặc biệt lại muốn phát hành một Đặc san Tết Nhâm Ngọ 2002, để mọi người có dịp đọc các bài viết bằng Việt ngữ thân yêu trong 3 ngày Xuân. Thật là một việc làm rất đáng khích lệ và ngợi khen, về tinh thần biết nhớ nguồn cội của ḿnh.
Hiện nay chúng ta đang sống trên đất nước Hoa Kỳ, Anh văn là ngôn ngữ căn bản dùng hàng ngày, nhưng cá nhân Tôi vẫn thường xuyên viết báo, làm thơ... bằng Việt ngữ, nên Ngân Hà, cháu nội gái của Tôi,  mới gửi Email yêu cầu đóng góp bài cho tờ Đặc san thêm phong phú và ư nghĩa cao đẹp về t́nh đoàn kết thắm thiết, trẻ già cùng cộng tác xây dựng hiện tại và tương lai.
Để làm quà Tết tặng các bạn trẻ Sinh viên Đại học IOWA, và quư vị độc giả của Đặc san Tết Nhâm Ngọ 2002, Tôi thấy không ǵ đẹp và ư nghĩa hơn, là ghi lại câu truyện về tích Trầu Cau Vôi, mà Tôi đă có dịp đọc trước đây trong kho tàng các truyện Cổ tích Việt Nam.
Ngày xưa tại nước Văn Lang, thời Vua Hùng trị v́, có một chủ gia đ́nh, người cao to và mạnh nhất trong vùng, thường tiếp tay cứu giúp đồng bào cô thế, đă được Vua Hùng triệu về Kinh đô Phong Châu nhiều lần khen thưởng và đặt cho tên là Cao. Từ đó ông chủ gia đ́nh kia lấy tiếng Cao làm tên Họ của ḿnh.
Nhà họ Cao sinh được 2 người con trai đặt tên là Tân và Lang. Đặc biệt dáng người và mặt mày hai người giống nhau như đúc, đến nỗi chính thân nhân trong nhà đôi khi c̣n bị nhầm lẫn không phân biệt được.
Hai anh em thương mến quyến luyến nhau nửa bước không rời. Khi 2 người đến tuổi lớn khôn, th́ Cha Mẹ lần lượt qua đời. Trước khi chết, người Cha đă gửi gấm Tân cho một đạo sĩ họ Lưu, nhờ dậy dỗ rèn luyện cho về văn học.
Ngày Tân đến ở nhà thầy theo học, người em tên Lang không chịu ở nhà một ḿnh, nhất quyết đ̣i theo sang cùng học chung một lượt với anh.
Nhà họ Lưu có một cô con gái cùng lứa tuổi với 2 anh em nhà họ Cao. Một hôm cô con gái họ Lưu muốn t́m hiểu xem người nào là anh, người nào là em, liền bầy ra một mẹo nhỏ để thử. Nhân giờ ăn sáng anh em họ Cao đang đói bụng, cô gái họ Lưu chỉ dọn cho 2 người có một bát cháo và một đôi đũa. Nàng đứng ŕnh sau khe vách quan sát, thấy người này nhường cháo cho người kia ăn. Qua cảnh đó nàng lẩm bẩm một ḿnh : - À ! Thế ra anh chàng vui tính là anh.
Từ đó trở đi, Tân và cô gái nhà họ Lưu thường hẹn ḥ gặp gỡ nhiều hơn, lâu dần họ yêu nhau khắng khít, và ông đạo sĩ họ Lưu ưng thuận cho 2 người kết hôn. Sau khi cưới, vợ chồng Tân cùng người em ra ở riêng trong một căn nhà mới.
Từ sau ngày lấy vợ, Tân vẫn chiều chuộng chăm sóc em, nhưng không c̣n vẻ vồn vă âu yếm khắng khít như hồi trước nữa. Lang cảm thấy cô đơn, đôi lúc tưởng như anh muốn xa lánh ḿnh, trong ḷng chán nản buồn bực, nhủ thầm : - Phải rồi, bây giờ anh ấy mê vợ quên ta.
Một hôm, 2 anh em Tân và Lang dắt nhau lên nương làm việc đến tối mịt mới nghỉ. Lang về đến nhà trước, vừa bước qua ngưỡng cửa th́ vợ của Tân từ trong buồng chạy ra ôm chầm lấy hôn. Lang thảng thốt kêu lên, làm cả 2 người cùng ngượng nghịu sấu hổ v́ cái lầm tai hại đó. Cũng vừa đúng lúc đó Tân về tới bước vào nhà.
Từ đó Lang nhận thấy, có lẽ v́ ghen, người anh ngày càng tỏ ra hững hờ với ḿnh hơn, nên trong ḷng vừa giận vừa thẹn, muốn bỏ nhà đi quách cho rồi.
Thế rồi, vào một buổi sáng tinh mơ, đất trời c̣n mờ mịt hơi sương, Lang bỏ nhà ra đi, trong ḷng đầy bực bội oán trách. Lang đi không ngơi nghỉ mấy ngày đường, gặp một con sông lớn nước chảy xiết chắn ngang. Chung quanh vắng hoe, không một tiếng gà gáy, chó sủa, Lang cảm thấy ngại ngùng, nhưng quyết không quay trở lại. Chàng ngồi bên bờ sông, hai tay ôm đầu gối, gục mặt xuống nỉ non khóc măi không thôi, đến nỗi những con chim rừng đi ăn khuya trở về, bay ngang vẫn c̣n nghe tiếng nức nở. Sáng hôm sau Lang chỉ c̣n là một cái xác không hồn. Chàng đă chết và hoá thành đá.
Thoạt đầu ở nhà Tân thấy vắng bóng em, nhưng không quan tâm lắm. Mấy ngày sau vẫn không thấy em về, Tân chạy qua các nhà hàng xóm t́m cũng không thấy, mới biết rằng em giận ḿnh đă bỏ nhà ra đi. Tân ân hận hoảng hốt, bỏ vợ ở lại nhà một ḿnh, vội vă lên đường đi t́m em.
Sau mấy ngày đường ṛng ră, Tân gặp một con sông rộng, không cách ǵ băng qua được để tiếp tục việc t́m em. Tân buồn rầu lững thững đi men dọc bờ sông, cuối cùng gặp xác em đă hoá đá. Tân đứng bên ḥn đá khóc sướt mướt, khóc măi cho đến khi tiếng nức nở lịm đi, giữa không gian chỉ c̣n lại tiếng nước cuồn cuộn chảy bên bờ sông. Tân đă chết, và hoá thành một cây dong dỏng cao không có cành, thân mọc thẳng vút lên trời, ngay bên cạnh ḥn đá.
Vợ Tân chờ măi không thấy chồng về, cũng bỏ nhà đi t́m. Đến cùng đường người đàn bà đau khổ cũng gặp phải ḍng sông ngăn lối. Nàng ngồi tựa lưng vào cây, ôm mặt nỉ non khóc măi đến cạn cả nước mắt rồi chết, và biến thành một cây loại dây leo cuốn vào thân cây cao mọc bên ḥn đá.
Ba người vắng nhà lâu ngày không thấy về, vợ chồng đạo sĩ họ Lưu phải mướn người bủa đi t́m. Khi phát giác ra ḥn đá và 2 cây lạ mới có bên ven sông, họ chỉ c̣n cách lập một trang Miếu nhỏ, để thờ 3 người trẻ đă qua đời. Dân chúng quanh vùng đặt tên là : Miếu “Anh em hoà thuận, Vợ chồng tiết nghĩa”.
Về sau, gặp phải năm bị hạn hán, mọi cây cỏ đều khô héo cả, riêng có 2 cây mọc bên ḥn đá trước Miếu vẫn xanh tươi như thường, mọi người cho là linh dị.
Một hôm Vua Hùng ngự giá ngang qua xứ đó, thấy cảnh lạ cây lạ, ngạc nhiên hởi : - Miếu này thờ vị Thần nào? Hai loại cây này, Ta chưa từng thấy bao giờ.
Lạc Tướng cho gọi các Bô Lăo trong vùng đến hỏi. Nghe họ kể câu truyện, Vua Hùng không ngăn được nỗi xúc động, vạch lá trèo lên ḥn đá ngắm nh́n khắp mọi nơi, rồi sai người trèo lên cây hái trái xuống nếm thử. Thấy vị chát không ǵ khác lạ, nhưng khi nhai chung với lá dây leo th́ đầu lưỡi cảm thấy một vị hay hay là lạ, nó vừa ng̣n ngọt, vừa thơm cay.
Bỗng dưng, một vị quan hầu giật ḿnh thảng thốt la lên : - Trời ơi! Máu.
Mọi người kinh ngạc giăn ra, mới nh́n thấy trên ḥn đá, chỗ nào có nước nhai  của trái và lá 2 cây đó nhổ lên th́ biến ra mầu đỏ như máu.
Vua sai lấy cả 3 thứ đó (cau, trầu, đá vôi) nhai lẫn với nhau một lượt, th́ tự nhiên người nhai cảm thấy nóng bừng như có hơi men trong máu, môi đỏ tươi, sắc mặt hồng hào xinh đẹp. Vua nói : - Thật là linh dị! Đúng là họ rồi! T́nh yêu của họ thật là nồng nàn thắm đỏ.
Từ đó, Vua Hùng ra lệnh cho mọi nơi phải gây giống trồng thật nhiều 2 loại cây ấy. Và đặc biệt nhà Vua c̣n quy định luật bắt buộc mỗi khi trai gái kết hôn thế nào cũng phải kiếm cho được ba món : trầu, cau, và vôi, cho mọi người tham dự đám cưới nhai nhai, nhổ nhổ một tí để ghi nhớ t́nh yêu không bao giờ phai lạt.
Dân tộc Việt Nam có tục ăn trầu kể từ ngày đó.
Sau này, trong các cuộc gặp gỡ giữa bạn bè, hoặc trong các cuộc tụ tập hội hè đ́nh đám, bao giờ người ta cũng thường sắm sẵn những khay bầy các miếng trầu có quệt chút sáp vôi bên trong, miếng cau, và miếng vỏ chát, để mọi người cùng vừa bỏm bẻm nhai chơi cho vui miệng, vừa nói chuyện.
Trong thời đại Nho học c̣n đang vượng trên đất nước Việt Nam, các bà mẹ thuộc các ḍng họ quan quyền, lúc kén vợ cho con thường đ̣i hỏi nàng dâu tương lai phải tinh thông :  Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ. Nhưng các bà mẹ thuộc hạng gia đ́nh trung lưu th́ lại dựa vào tiêu chuẩn : khoẻ mạnh, hông to, tháo vát chăm chỉ làm ăn, nấu nướng làm cỗ bàn giỏi, khéo lựa lời ăn nói, khéo chân tay đặc biệt trong lănh vực may vá quần áo và têm trầu bổ cau.
 Có lẽ bởi thế mà Ca dao Tục ngữ Việt Nam có thêm câu :
“Miếng trầu là đầu câu chuyện”.

Khiết Châu Nguyễn-Huy Hùng
 

1 1