TRUYỀN TIN
MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU
CỦA CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT.

Nguyễn Huy Hùng


Khi Hoá Công tạo dựng lên những loài động vật sống trên trái đất, Ngài đă dự liệu (programming) cho mỗi loài có một đặc tính riêng, và cơ thể tổng quát của mọi loài là một bộ máy tổng hợp tinh xảo, hoạt động liên tục không ngừng, từ lúc sinh ra cho đến lúc hết hạn kỳ của cuộc sống mới ngưng. Câu truyện Tôi sẽ tŕnh bầy cùng quư vị độc giả, được hạn chế trong phạm vi góc cạnh nhỏ, liên quan đến nhu cầu truyền tin mà thôi.
Hầu như tất cả những loài động vật sống trên cạn (nhân, cầm, thú) đều có 5 giác quan (khứu giác, thính giác, thị giác, vị giác, xúc giác). Cả 5 giác quan này đều là phương tiện truyền tin thiết yếu, cần phải có để các sinh vật liên lạc với nhau. Nhưng, các phương tiện bẩm sinh cơ hữu này, chỉ xử dụng được hữu hiệu trong một phạm vi không gian giới hạn. Nếu hai sinh vật đứng cách nhau xa quá tầm nh́n của mắt, th́ chẳng nh́n thấy được các dấu hiệu do đối tác muốn chuyển đến cho ḿnh. Nếu đứng xa quá khả năng thâu nhận sóng rung động không khí đập vào màng nhĩ, th́ cũng không nghe được đối tác muốn nói điều ǵ với ḿnh. Đặc biệt các dây phát âm (vocal cords) nơi cổ họng, cũng chỉ có khả năng rung mạnh và phát ra âm thanh cao đến một mức nào đó thôi, nếu 2 đối tác đứng cách nhau xa quá tầm vang động, âm thanh cũng sẽ không vọng được tới tai đối tác những điều ḿnh muốn truyền đạt.
Các loài cầm, thú, không được Hoá Công phú cho bộ óc thông minh biết phán đoán, t́m ṭi, sáng tạo để vươn lên, nên đành phải chịu đựng sự hạn chế này. Nhưng “con người linh hơn vạn vật” đâu có chịu, phải sáng tạo ra những phương tiện phụ, để thoả măn nhu cầu của ḿnh. Do đó, chúng ta thấy qua lịch sử các thời đại phát triển của loài người từ sơ khai cho đến nay, có rất nhiều loại phương tiện truyền tin khác nhau từ đơn giản đến tinh vi đă được con người sáng tạo để xử dụng.
Thời sơ khai, khi con người biết tụ tập thành bộ lạc để hiệp lực đi săn mồi mà sống, là lúc thực phẩm bắt đầu khan hiếm. V́ thế, bắt đầu có chiến tranh giữa các Bộ Lạc, để cướp của tư hữu hoặc giành chiếm cứ khu vực sung túc con mồi. Do đó, các Bộ Lạc phải tổ chức các toán chiến sĩ khoẻ mạnh, để sẵn sàng giao chiến bảo vệ Bộ Lạc, và cắt cử người canh gác tại tuyến tiền đồn thật xa, chung quanh khu vực cư trú để báo động khi có địch tới. Nhu cầu cần có các phương tiện truyền tin được đặt ra. Thoạt đầu, người ta dùng Liên Lạc Viên chạy đi báo (sau này thời Vua Chuá tại Việt Nam vẫn c̣n dùng và gọi là Hoả Bài Quân). Nhưng, Liên Lạc Viên thường bị địch quân chặn đường bắt hoặc gặp tai nạn dọc đường, nên tin không được chuyển đến nơi, hoặc bị chậm trễ. Người ta lại phải nghĩ ra cách dùng một loại dụng cụ tạo tiếng vang, để truyền tin thay cho Liên Lạc Viên. Dụng cụ đó là 1 cây que cứng, để đập lên một bọng gỗ tạo ra tiếng động, để truyền tin hiệu từ tiền đồn về trạm trung gian gần nhất, rồi cứ thế các trạm trung gian khác nối tiếp nhau truyền lại cùng tin hiệu đó, về đến hang động của Bộ Lạc.
Đến tận Thế Kỷ 20, chúng ta cũng c̣n thấy các làng xă Việt Nam dùng Mơ tre hoặc gỗ, để báo tin giờ cầm canh đêm hoặc hiệu báo động có cướp xâm nhập khu vực, giữa các trạm Tuần đinh tại các xóm trong cùng một làng. Quần chúng vùng đồng bằng sông Hồng (Bắc Việt) c̣n dùng trống lớn tiếng vọng được xa, để báo tin giữa các trạm canh đê trong suốt thời gian mùa nước lũ. Làng quê cũng c̣n dùng trống, báo hiệu cho quần chúng biết giờ khai mạc các kỳ Họp Làng, Lễ hội, hay hát tuồng hát bội, để mà dắt nhau đi tham dự. Nơi thành thị dưới thời Pháp thuộc trước 1945, chúng ta cũng thường nghe tiếng Kẻng cầm canh, hoặc tin hiệu báo động có tù vượt ngục, giữa các lính canh gác tù ngồi trên các tṛi cao tại các góc tường Khu Khám Lớn ngay giữa các thành phố. Từ buổi xa xưa cho đến Đệ Nhất Thế chiến, Trống và Kèn c̣n được người ta xử dụng trên cả 5 Châu để truyền lệnh cho quân sĩ, biết giờ giấc thức ngủ, tập họp, giờ nghỉ việc nơi doanh trại, tiến quân, thối lui nơi chiến trường. (Hiện nay các Trại lính của Pháp, Hoa Kỳ vẫn c̣n thấy dùng kèn báo thức, ngủ, và mặc niệm Tử sĩ trong những buổi lễ an táng và truy điệu Tử sĩ). Dĩ nhiên người ta phải quy định các khúc nhạc khác nhau cho kèn, hoặc cách đánh và những hồi trống khác nhau để phân biệt từng loại tin tức muốn truyền đạt. Chẳng hạn, gơ 1 hồi 3 tiếng nhát một là b́nh an vô sự, gơ ngũ liên (tức là liên tục từng hồi 3 tiếng -tùng tùng…tùng) là có nguy biến, gơ một hồi dài chừng vài chục tiếng rồi chấm dứt bằng 3 tiếng nhát một là khởi sự họp, mở hội, hay bắt đầu buổi diễn xuất hát …
Đến thời con người biết dùng lửa để nướng chín đồ ăn, th́ lại sáng tác cách đốt đống cành lá tạo ra các bụm khói để báo tin cho nhau. Hiện nay, tại Hoa Kỳ, nếu ai có dịp đi thăm các trung tâm di tích lịch sử của người Mọi Da Đỏ, th́ sẽ được thấy họ biểu diễn cho coi cách họ dùng đống lửa và mền để tạo các bụm khói báo tin như thế nào. Bên Âu Châu, người ta c̣n dùng 2 chiếc cờ nhỏ mầu trắng đỏ, cằm nơi tay dơ lên hạ xuống theo một quy ước riêng, để làm phương tiện liên lạc giữa 2 trạm truyền tin nằm trong tầm mắt nh́n được của con người. Những tầu đi trên biển, ngoài các cờ người ta c̣n dùng một loại gương phản chiếu ánh sáng mặt trời, có miếng che đóng mở được để truyền những tin hiệu cho nhau.
Những phương tiện truyền tin này lộ liễu, mọi người có thể thấy và biết được sự hiện diện và vị trí của đối phương. Do đó người Âu Châu v́ nhu cầu bảo mật các kế hoạch hành quân xâm lược, cũng như pḥng thủ, họ đă nghĩ ra cách huấn luyện và dùng BỒ CÂU và CHÓ ĐƯA THƯ thay cho các phương tiện cố hữu mọi người đă quen dùng. Cho đến giữa Thập niên 1940 qua đầu Thập niên 1950, quân đội viễn chinh Pháp tái xâm chiếm Việt Nam, thấy vẫn c̣n có những đơn vị Truyền Tin Bồ Câu Đưa Thư, làm phương tiện phụ dùng trong các trường hợp nguy cấp, mọi phương tiện truyền tin bằng vô tuyến (radio) và hữu tuyến (wire) bị trục trặc không xử dụng được. Từ khi Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập vào cuối Thập niên 1940, trong các Đại đội Truyền Tin cũng có các Trung đội Bồ Câu Đưa Thư. Các Bồ Câu Liên Lạc Viên này, được tiếp tục nuôi dưỡng xử dụng thao luyện duy tŕ măi cho đến khoảng năm 1956, mới giải tán không dùng nữa v́ rất tốn kém và hầu như không có nhu cầu.
Theo sử liệu Việt Nam, th́ vào Thế Kỷ 15 (khoảng các năm 1423-1429), thời Anh Hùng áo vải đất Lam Sơn Lê Lợi chiêu mộ Nghiă Binh đánh đuổi quân nhà Minh đô hộ nước Đại Việt của chúng ta, dưới trướng của B́nh định Vương Lê Lợi có Danh Tướng TRẦN NGUYÊN HĂN cũng biết dùng BỒ CÂU ĐƯA THƯ để liên lạc từ chiến trường với Chủ Soái Lê Lợi nơi hậu cứ. V́ thế, Binh chủng Truyền Tin Quân Lực Việt Nam Cộng hoà đă tôn vinh Danh Tướng TRẦN NGUYÊN HĂN làm Thánh Tổ Binh chủng của ḿnh. Để mừng Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1967, Binh chủng Truyền Tin đă được Chính phủ Việt Nam Cộng hoà cho phép xây dựng Tượng đài kỷ niệm Thánh Tổ TRẦN NGUYÊN HĂN ngay tại giữa Công viên trước mặt tiền Chợ Bến Thành (Saigon). Tượng đài gồm một bệ h́nh tháp vuông cao cả chục mét với 4 cửa ṿng cầu thông suốt qua 4 hướng, trên đỉnh là tượng Danh Tướng TRẦN NGUYÊN HĂN cưỡi trên lưng ngựa, tay trái cầm cương, tay phải dơ cao CON BỒ CÂU như đang sẵn sàng thả nó bay đem tin đi, đúc bằng đồng đen. Hiện nay ai có dịp ghé thăm Saigon, vẫn c̣n may mắn thấy Tượng đài TRẦN NGUYÊN HĂN nguyên vẹn hùng dũng, vươn cao trên nền trời trước mặt tiền Chợ Bến Thành.
Kể từ khi nhân loại phát minh ra được các phương tiện điện tử, th́ các phương tiện truyền tin cổ lỗ đơn giản bị bỏ rơi vào quên lăng. Bây giờ chỉ c̣n thiểu số người dư giả tiền tài, lập dị thích có cuộc sống đơn giản mộc mạc bên thiên nhiên như con người Thời đại Sơ Khai và Bán khai, là c̣n duy tŕ xử dụng mà thôi. Hoặc ta cũng có thể thấy trưng bầy trong các Bảo tàng viện, để mọi người có thể đến t́m hiểu về quá khứ phát triển của loài người.
Ngoài ra chúng ta cũng nên biết rằng, những sách khảo cứu và những cuốn truyện xă hội, những cuốn phim, những bức tranh, các bản nhạc, các áng thơ, giúp cho con người giải trí … cũng đều là các phương tiện truyền tin rất cần thiết cho loài người. Chúng là phương tiện truyền tin thiết yếu, lưu truyền các tin tức xă hội và sự kiện lịch sử phát triển của loài người, giữa các Thế hệ nối tiếp nhau liên tục trong hiện tại và tương lai vô tận đến khi Tận Thế.
Để phân biệt với các Quân Binh Chủng khác trong Quân lực Việt Nam Cộng hoà, Binh chủng Truyền Tin có một Huy Hiệu (gắn ở 2 bên ve cổ áo bộ quân phục Đại Lễ) và Phù Hiệu (đính trên tay áo trái, nơi gần vai, của tất các loại quân phục Đại Lễ, Tiểu Lễ, và Làm việc). Thoạt đầu Binh chủng Truyền Tin được tổ chức theo khuôn mẫu Truyền Tin của Quân đội Pháp, nên chia ra 2 lănh vực chuyên biệt khác nhau : 1.- Ngành chuyên trách Khai Thác xử dụng các phương tiện máy móc truyền tin để duy tŕ liên lạc giữa các đơn vị trong Quân đội; 2.- Ngành chuyên trách về Vật Liệu (tiếp tế, sửa chữa, tồn trữ các máy móc truyền tin) để cung cấp cho các đơn vị quân đội theo ấn định trong các Bảng Cấp Số. Cho nên vào thời đó, Binh chủng Truyền Tin có 2 Huy Hiệu khác nhau, h́nh vẽ 1 dưới đây là Huy Hiệu của Ngành Khai Thác, và h́nh vẽ 2 là Huy Hiệu của Ngành Vật Liệu. Đến thời kỳ cải tiến Quân đội theo khuôn mẫu Quân đội Hoa Kỳ vào Thập niên 1960, Ngành Khai Thác và Ngành Vật Liệu Truyền Tin sát nhập thành một, nên có chung một Phù Hiệu Truyền Tin (h́nh 3 dưới đây) đeo nơi tay áo trái, c̣n Huy Hiệu Con Bồ Câu và Bó đuốc (h́nh 1) vẫn tồn tại, để gắn nơi 2 ve cổ áo các bộ quân phục Tiểu Lễ và Đại Lễ.
Hy vọng câu truyện dông dài không đầu không đuôi trên đây, cũng góp phần nào giải quyết được tính ṭ ṃ muốn t́m hiểu về Truyền Tin của Qúy vị Độc giả, trong 3 ngày Xuân con Khỉ 2004.
NGUYỄN-HUY HÙNG
(một Bồ Câu già của Binh ChủngTruyềnTin.)

CÁC HUY HIỆU VÀ PHÙ HIỆU CỦA BINH CHỦNG TRUYỀN TIN
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ TỪ NGÀY THÀNH LẬP ĐẾN 30-4-1975, VÀ
HUY HIỆU TRUYỀN TIN CỦA QUÂN ĐỘI ĐỒNG MINH PHÁP, HOA-KY`

 KỲ

 

1